skip to main |
skip to sidebar
Lữ Triệu Phong

Sau cùng, nhân dân Iraq đã nô nức xuống đường mà không hề bị lùa như trong nửa thế kỷ qua. Ở cấp độ cơ chế quốc gia, bức tường độc tài ở đây đã vỡ hẳn. Lần đầu tiên trong suốt 50 năm dài, nhân dân nước này đã cho vào thùng phiếu những lá phiếu tự do của mình. Không một ai buộc họ phải đi bầu. Không một ai tổ chức “học tập” cho họ trước đó. Không một ai buộc họ phải đầu phiếu cho người này hay gạch tên người khác. Lá phiếu của mỗi người phản ánh trung thực ý kiến chọn lựa của chính họ. Bất chấp những lời đe dọa của phiến quân Hồi giáo cực đoan sẽ thu gom mạng sống của những ai đi bầu, bất chấp những kẻ ôm mìn tự sát phá hoại các địa điểm đầu phiếu, bất chấp cả các tiếng nổ ì ầm bom đạn từ ngoại ô vọng về thành phố, những hàng người nối nhau như trẩy hội, ngẩng mặt thách thức quân khủng bố bằng lá phiếu của từng người và bằng tổng số người xuống đường bỏ phiếu cao hơn cả tỷ lệ cử tri đi bầu ở Mỹ. Con đê sợ hãi cũng đã vỡ toang. Có những người tàn phế đi bầu trên chiếc xe lăn của họ. Có những người tàn tật được thân nhân cộ đi bằng xe đẩy hàng. Có những cụ già được con cháu cõng trên lưng đến phòng phiếu. Có những tráng niên địu ẵm con thơ, dắt dìu bố mẹ…. Có những em bé thức sớm để nhắc nhở và hối thúc mẹ cha: “Hôm nay là ngày bầu cử!”. Có người nức nở: “Tôi đã ôm hôn thùng phiếu. Đây là một lễ hội. Đây là một bước ngoặt và là một bước tiến đúng hướng để dẫn tới độc lập”. Có người mang kẹo bánh đến biếu tặng các nhân viên phòng phiếu. Có những quân nhân đã dán hẳn tờ cổ động đi bầu nhiều màu rực rỡ lên trên báng súng. Có người luôn miệng chúc lành cho các toán lính bảo vệ địa điểm bỏ phiếu: “Thượng Đế sẽ ban phước lành cho bạn”. Có người đã nhảy múa sau khi bỏ phiếu. Còn trẻ em thì vui đùa biến các sân phòng phiếu thành chỗ đá bóng…. Và, cảm động biết mấy, hàng triệu phụ nữ Ả-rập, từ tuổi thanh niên đến trang phụ lão, lần đầu tiên được biết tới những thao tác bỏ phiếu, lần đầu tiên được thưởng thức mùi vị tự do và bình đẳng, lần đầu tiên được hành xử một quyền căn bản của con người trong cộng đồng nhân loại. Cụ bà Fathiya Mohammed ở thành phố Askan đã bảo: “Đây mới thực là dân chủ. Đây là ngày đầu tiên trong đời tôi cảm thấu được sự tự do”. Ở thành phố Irbil, bà Fatima Ibrahim, năm 14 tuổi đã lấy chồng, trăng mật chỉ được non 3 tháng thì chồng bà bị chế độ bắt đi biệt tích cùng với người cha và mấy anh em trai, hiện rất hãnh diện về vết mực tím trên ngón tay trỏ được đánh dấu là đã bỏ phiếu, hân hoan phát biểu rằng: “Bây giờ tôi mới thực sự nghĩ rằng chế độ Saddam Hussein đã vĩnh viễn sụp đổ”. Bà Batool Al Musawi ở thành phố Baghdad, khi nghe tiếng súng cối vào buổi sáng bầu cử, đã giải thích: “Lúc đó, những tiếng nổ đã làm tôi chợt nảy ra ý nghĩ rằng bọn khủng bố đã yếu, chúng sợ dân chủ, chúng đang thua. Bởi vậy, tôi đã giục chồng tôi, ba mẹ tôi, và chúng tôi cùng đi bỏ phiếu với nhau một lượt”. Không hẳn là tất cả những cụ già và thanh niên nam nữ đó đều đã được nghe qua lời khẳng định của vị tổng thống Mỹ trong bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ 2 trước đó chỉ hơn một tuần: “Chúng ta không chấp nhận sự tồn tại vĩnh viễn của các chế độ chuyên chế bởi chúng ta không chấp nhận tình trạng nô lệ tồn tại vĩnh viễn. Tự do sẽ đến với những ai yêu quý nó”. Nhân dân Iraq, cũng như nhiều dân tộc bị áp bức khác, tự họ đã đề kháng nhiều năm với một chế độ độc tài trên đất nước mình, bất kể là độc tài cộng sản hay không cộng sản. Tự họ đã thực sự yêu quý tự do một cách trân trọng, khát khao. Tự họ đã bày tỏ lòng yêu quý này bằng sự can đảm phá vỡ con đê sợ hãi, ngay trong lòng mỗi người. Bức tường Bá Linh cũng từng sụp đổ bắt đầu bằng ý chí và lòng dân. Ông Shamal Hekeib, 53 tuổi, cùng vợ đi bộ 20 phút để tới phòng phiếu ở phía Nam thành Baghdad, đã bảo rằng: “Chúng ta là người Ả-rập, chúng ta không sợ hãi và chúng ta không hèn nhát!”. Bà Alaa Abed Mehdi, 27 tuổi, ngắm nhìn dòng người đi bầu từ phía trong cửa sổ trong lúc tai nghe tiếng súng cối ầm ì quanh vùng, đã chợt thốt lên rằng: “Đó là một cảnh quan đáng kinh ngạc. Tôi không bao giờ chờ đợi được thấy một khung cảnh tương tự như vậy. Nó khiến tôi tự hỏi mình còn chờ gì nữa mà không đi bầu?”. Trong khu vực mệnh danh là khu Tam Giác Sunny do phiến quân khủng bố kiểm soát, giáo viên cấp 3 Jaffer Nima Kateeb, 45 tuổi, rời nhà để đến phòng phiếu, đi ngang qua những khu láng giềng có những đám đông tụ tập mà ông biết trong đó có cả những cựu nhân viên mật vụ của Saddam ngày trước đang liếc xéo, nên ông quay trở về nhà. Nhưng ít lâu sau đó, ông lại xuống đường đi đến phòng phiếu, trong lòng nhủ thầm một lời khích lệ của người anh ông: “Họ không thể giết hết mọi người!”. Còn gia đình hàng xóm của ông thì kéo hết cả nhà đi ngờ ngờ: “Tôi bất chấp. Vụ bầu cử này làm tôi thấy quá vui”. Cũng trong khu vực này, ông Abed Hunni đã cùng vợ đi bộ hơn cây số để tới phòng phiếu Musayyib với ý nghĩ bật ra thành lời: “Thượng Đế đã hào phóng ban cho chúng ta được ngày hôm nay”.
Không chỉ Thượng Đế. Với lá phiếu trên tay, cứ nghĩ như bà Batool Al Musawi vừa kể, thì khi bỏ phiếu vào thùng, nhân dân đã chính thức bàn giao sự sợ hãi qua cho đám thiểu số hiện đang níu giữ bạo lực.
Lê Trực

Kể từ thời dựng nước, Việt Nam đã trải qua gần năm chục thế kỷ bị thường trực đe dọa mầm xâm lược từ phương Bắc với tổng cộng cả ngàn năm Bắc thuộc và cả trăm năm Pháp thuộc. Nhưng, đất nước và dân tộc Việt Nam vẫn tồn tại trên mặt đất. Nhờ đâu? Có nhiều yếu tố đáng kể. Đáng kể hàng đầu phải là tinh thần quần tụ cộng đồng, thấy rõ nhất là khi phải đối diện với thiên tai và địch họa. Không ai bảo ai, chiến đấu với thiên nhiên và kẻ thù xâm lược phải bắt đầu bằng tinh thần đoàn kết. Đoàn kết từ cấp thôn xã tới cấp quốc gia. Đoàn kết từ các tảng đất đắp đê cho tới những đầu gậy Diên Hồng. Đoàn kết bằng ý chí đấu tranh và bằng kỷ luật tuân thủ nguyên tắc lãnh đạo chỉ huy. Đoàn kết đã trở thành tập quán sinh hoạt của người Việt, từ năm ngàn năm trước. Đoàn kết chính là chất keo gắn liền những trang sử vẻ vang của dân tộc và sự tồn tại của quốc gia. Rõ ràng: Quốc gia không phải được hình thành để chia chác những vinh quang bổng lộc, mà nó hình thành để các cộng đồng dân cư cùng sẻ chia những khó khăn và thử thách. Các cộng đồng dân cư đã cùng nhau tổ chức hóa quốc gia từ thời dựng nước và liên tục làm cho đất nước phát triển. Mặt khác, nó giữ một vai trò quan trọng trong cả việc quân bình hóa sinh hoạt tinh thần lẫn vật chất của chính những cộng đồng dân cư đó. Lòng tự tin của nhân dân ngày một nâng cao và khoảng cách giàu nghèo cũng được giảm thiểu khi sinh hoạt cộng đồng nảy nở lành mạnh dưới nhiều hình thái khác nhau, gần gũi nhất là các hội đoàn. Vì sao? Bản chất thực sự của đói nghèo là do sự bất bình đẳng về quyền lực, nguyên nhân chính gây ra sự bất bình đẳng về cơ hội. Nhất là khi mà trong xã hội, tính minh bạch cùng trách nhiệm giải trình không được coi trọng, thì cơ hội tiếp cận hoàn toàn thuộc về giới quyền chức, tất yếu làm giới hạn quyền được thăng tiến của một bộ phận lớn nhân dân. Một cơ chế xã hội càng tạo ra nhiều sự bất bình đẳng về quyền lực thì sẽ khiến cho tình trạng chênh lệch nghèo càng trở nên trầm trọng. Sinh hoạt hội đoàn sẽ làm gia tăng trọng lượng tiếng nói của các cá nhân đơn lẻ, khiến người nghèo không dễ dàng bị gạt bỏ bên lề cuộc đua thăng tiến. Sinh hoạt hội đoàn còn giúp cho tập thể những người yếu kém trong xã hội có chỗ tựa để nâng cao vị thế của mình, khả dĩ tạo được sự tôn trọng cũng như sự quan tâm của những thành viên khác trong xã hội, đặc biệt là từ nhà cầm quyền. Thực tế Việt Nam trong những năm qua cho thấy người dân nghèo không được quan tâm đúng mức và họ càng trở nên nghèo đói trong một xã hội đang chuyển biến với vô vàn cơ hội. Khi trở nên yếu thế và dễ bị tổn thương, các cơ hội về quản lý và khai thác tài nguyên của họ cũng trở thành không đáng kể. Nếu được tham gia vào các tổ chức nhất định như hội, đoàn, tổ, nhóm vv.. người dân sẽ có điều kiện được quản lý nguồn tài nguyên của mình tốt hơn. Vừa có lợi cho đất nước, lại vừa giúp cho họ vượt khỏi ngưỡng đói nghèo. Thực tế đã chứng minh là khi có nhiều cộng đồng dân cư ven biển cũng như ven rừng đứng lại với nhau trong một tổ chức, họ sẽ có cách cùng nhau bảo vệ và khai thác hiệu quả hơn nguồn lợi tự nhiên của biển và rừng. Nhiều dự án dựa vào cộng đồng và lấy nhóm cộng đồng dân cư làm định hướng phát triển đã chứng minh sự thành công vượt trội trong công tác xóa đói giảm nghèo. Trong sinh hoạt tổ, nhóm, hội, đoàn… các thành viên đều coi đó như những diễn đàn bình dân và bình đẳng mà họ có thể thoải mái phát biểu, cùng sẻ chia những kinh nghiệm thành công hay khó khăn của riêng mình cho toàn nhóm lấy làm kinh nghiệm chung. Năng lực của từng người và cả nhóm từ đó sẽ gia tăng. Kỹ thuật giải bày ý kiến cũng thằng thắn và trung thực đủ để mỗi người trau dồi khả năng nâng cao nhận thức và biểu đạt quan điểm. Mỗi cá nhân trong các hội, đoàn đó đều thấy ra: Trong một xã hội ngày càng đòi hỏi cải tiến liên tục phương thức làm việc tập thể, thì hiệu quả của việc tập trung trí tuệ và năng lực đã khiến cho vai trò và chức năng của những tổ chức cộng đồng quần chúng tự lập càng có ý nghĩa quan trọng. Trong một đất nước mà quyền lợi của Nhân dân được tôn trọng và bảo vệ thì các hội đoàn sẽ là những tổ chức trung gian đóng vai trò tích cực trong việc củng cố Chính quyền và là phương tiện chuyển tải những chính sách của Nhà nước đến với nhân dân. Như vậy, rõ ràng: Các hội đoàn là một bộ phận tất yếu của xã hội dân sự. Để giữ đúng chức năng bảo vệ quyền lợi của các thành viên, các hội đoàn này có thể ẩn mình trong quan hệ với Nhà nước, song ở nhiều lúc và nhiều nơi cần thiết, nó có khả năng thể hiện qua các tập hợp hoặc liên minh độc lập trong vai trò trung gian chuyển tải nguyện vọng của Nhân dân với Nhà nước. Ngược lại, trong một đất nước mà quyền lợi chỉ tập trung vào tay của một nhóm người lãnh đạo cố níu giữ độc quyền kinh tế xã hội, thì sinh hoạt của các tổ, nhóm, hội, đoàn… sẽ trở thành những diễn đàn tích cực của nhân dân để giải tỏa phần nào tính độc quyền ở hạ tầng cơ cấu, tiến dần tới việc giải tỏa nguồn gốc sinh ra những đặc quyền đặc lợi ở nhiều tầng cấp. Mặt khác, những sinh hoạt kết đoàn đích thực của nhân dân nói trên cũng sẽ dần dà quân bình hóa hay thăng tiến hóa hoạt động của những tổ chức quần chúng đang nằm trong sự kiểm soát chặt chẽ mà thiếu hiệu quả hiện nay. Nói cách khác: Muốn thực thi khẩu hiệu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, nói chung là muốn đất nước phát triển, thì tất yếu là phải đẩy mạnh việc hình thành một xã hội dân sự, bằng cách nâng cao vai trò của những bộ phận tất yếu của xã hội dân sự là các hội đoàn. Nhân dân chúng ta hãy tận lực giúp nhau và giúp Nhà nước phát huy tối đa mọi hình thái Sinh Hoạt Hội Đoàn, bắt đầu là ngay tại địa phương mình.
Long Tuyền
Ngày 3 tháng 12, 2004 Quốc hội Việt Nam ban hành nghị quyết số 41/2004/QH11 nêu lên tầm quan trọng của năm 2005 là năm cuối của kế hoạch 5 năm 2001-2005 và đặt ra một số chỉ tiêu và nhiệm vụ chính phải thực hiện trong năm nay. Các chỉ tiêu vĩ mô được đề nghị ra có đặc điểm chung là nhiều tham vọng, tuy không đến nỗi trở thành hão huyền. Chẳng hạn như mức tăng trưởng của Tổng Sản Phẩm phải gia tăng 8.5%. Trong khi năm 2002 hoặc năm 2003 đạt khoảng 7%, và các dự trù lạc quan nhất cho 2005 cho thấy sẽ khó vượt 7.5%. Chỉ số giá tiêu dùng sẽ phải tăng dưới 6.5%, trong khi chỉ số này tăng khoảng 8% trong năm 2004, và trong khi những yếu tố có tác dụng làm vật giá gia tăng như sự việc tiền VN xuống giá so với đồng Mỹ Kim, giá nguyên liệu nhập khẩu cao, giá gạo gia tăng, cầu trong nước mạnh... có nhiều xác suất sẽ tồn tại trong năm 2005. Những chỉ tiêu còn lại là: Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thiếu dinh dưỡng sẽ phải giảm xuống 25%, từ 30% hiện nay. 1.6 triệu việc làm mới phải được cấu tạo, trong đó xuất khẩu lao động 70000 người. Số học sinh học nghề tăng 12%. Tỷ lệ hộ nghèo phải giảm xuống dưới 7%. Tỷ lệ sinh giảm 0.4 phần ngàn. Sau phần ấn định chỉ tiêu, Quốc Hội đã kê khai 10 nhiệm vụ và giải pháp chính phải hoàn thành để đạt được các chỉ tiêu đưa ra. Các nhiệm vụ này trải rộng trên mọi lãnh vực. Nhiệm vụ 1 đề cập tới việc đổi mới công nghệ, thu hút đầu tư nước ngoài, củng cố doanh nghiệp nhà nước, chủ động chính sách tiền tệ, cố gắng tăng thu. Nhiệm vụ 2 nhấn mạnh về nâng cao chất lượng đào tạo nghề, điều chỉnh chi tiêu về đói nghèo, kềm chế tỷ lệ tăng dân số qua công tác tuyên truyền, ban hành pháp lệnh dân số, tăng cường quản lý nhà nước về viện phí, giá thuốc. Nhiệm vụ 3 liên quan tới việc nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ trẻ em. Nhiệm vụ 4 nêu lên việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, tăng cường chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ, giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường. Nhiệm vụ 5 liên quan tới các chương trình phát triển kinh tế xã hội ở miền núi và các vùng có đông các sắc tộc thiểu số cư ngụ. Nhiệm vụ 6 nói tới nhu cầu củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, phối hợp giữa quân đội và công an. Nhiệm vụ 7 nhấn mạnh về sự ổn định quan hệ lâu dài với các nước láng giềng trong khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế, vận động người Việt Nam ở nước ngoài, chuẩn bị và bảo đảm các điều kiện để hội nhập kinh tế quốc tế. Nhiệm vụ 8 đề cập tới nhu cầu cải tổ guồng máy công lý, khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật, kiện toàn và nâng cao chất lượng cán bộ tại các cơ quan tư pháp, phát hiện và xử lý nghiêm các vụ tham nhũng. Nhiệm vụ 9 liên quan tới việc bảo đảm quyền lợi của người dân, giải quyết các vụ khiếu nại tồn đọng, ban hành chính sách đền bù nhất là trong việc thu hồi đất của dân. Nhiệm vụ 10 nêu lên nhu cầu đẩy nhanh tiến trình cải cách hành chính. Nói chung, những nhiệm vụ để lộ những thiếu sót kinh niên của cấp lãnh đạo trong việc mang lại phúc lợi cho người dân VN; guồng máy hành chính vẫn rườm rà và thư lại; tham nhũng vẫn hoành hành; hệ thống tư pháp vẫn bị cơ quan hành pháp chi phối; luật lệ vẫn thiếu minh bạch và tròng tréo nhau. Bên cạnh những khó khăn cố hữu này, người ta còn thoáng thấy một số chỉ dấu báo động cho nguy cơ mới. Trước hết, dân số gia tăng nhanh chóng hơn dự trù! Theo kế hoạch 5 năm 2001-2005 thì đến năm 2005, nước VN sẽ có khoảng 83 triệu người, trong đó ở nông thôn khoảng 60 triệu và ở thành thị 23 triệu. Trong thực tế, thì dân số gia tăng khoảng 83.3 triệu người, trong đó 21.5 triệu ở thành thị. Thành ra người dân không rời bỏ nông thôn để vào thành thị đông như dự trù, khiến vấn đề khiếm dụng và thất nghiệp ở nông thôn thêm trầm trọng. Nghị quyết số 41 này nhấn mạnh rằng 1.6 triệu việc làm cần được cấu tạo trong năm 2005, trong khi con số thường được các bản báo cáo khác nhau nêu lên trước đây là 1.2 triệu. Tuy chưa hết 5 năm của kế hoạch, nhưng có thể nói rằng các chính sách về phát triển xã hội không đạt được kết quả, đặc biệt là trên các mặt giáo dục và y tế. Đối chiếu với Tổng Sản Phẩm, tỉ lệ chi tiêu về giáo dục còn thấp kém so với các quốc gia cùng trình độ phát triển. Đối chiếu với ngân sách Nhà Nước, thì thấy rằng tỉ lệ này suy giảm mỗi năm. Bên cạnh những con số cho thấy số trẻ em ghi danh tiểu học có gia tăng từ 88% năm 1998 lên tới 91% vào năm 2002, thì ai cũng thấy việc giảm thiểu con số 9% còn lại khó vô cùng. Một nửa trẻ em ở tuổi tiểu học không được đến trường thuộc các sắc dân thiểu số, nửa còn lại là các em bị khuyết tật, hay không có gia đình sống lang thang đầu đường xó chợ. Các vùng núi Bắc Bộ, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long là những vùng tập trung đông trẻ em ở tuổi tiểu học mà không được đến trường. Thành ra việc "phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa" nêu ra trong kế hoạch 5 năm có thể kết luận ngay rằng không thành công. Chi tiêu giáo dục của Nhà Nước dành cho 20% thành phần giàu nhất trong dân số (trung bình 859 000 đồng) đáng kể hơn là cho 20% thành phần nghèo nhất (trung bình 837 000 đồng). Sang tới các chỉ tiêu y tế, thì tính cách tụt hậu về phương diện xã hội này càng thêm rõ nét: 26.9% của các chi tiêu của Nhà Nước dành cho 20% thành phần giàu nhất, trong khi 13.5% dành cho 20% thành phần dân số nghèo nhất. Những bất bình đẳng về chi tiêu y tế giải thích tại sao có nhiều chênh lệch giữa các chỉ số y tế của các vùng và các sắc tộc. Tử suất của trẻ sơ sinh tại miền núi Bắc bộ cao gấp 4 lần miền Tây Nam (41 phần ngàn so với 11 phần ngàn), cũng như giữa những hộ mù chữ và những hộ được học xong trung học (58.6 phần ngàn so với 13.2 phần ngàn). Thông thường, công chi về y tế và giáo dục là phương tiện tốt nhất để làm giảm thiểu các chênh lệch xã hội và mang lại cho các thành phần khốn khó nhiều cơ hội hơn để cải thiện cuộc sống cho chính mình và cho con cái của mình. Một chính sách giáo dục và y tế nhằm hỗ trợ cho các thành phần đang được ưu đãi nhất trong xã hội, thay vì nâng đỡ các thành phần yếu kém thiếu may mắn, hiển nhiên là có tính cách phản xã hội và có tác dụng làm cho các chênh lệch thêm trầm trọng giữa những thành phần nhân dân. Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa tiêu xài như vậy thì sự việc xã hội Việt Nam càng ngày càng thêm phân hoá ắt là điều khó tránh khỏi và tương đối dễ hiểu thôi!
Trịnh Thị Hoài Thuở trời đất nổi cơn gió bụi Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên Xanh kia thăm thẳm tầng trên Vì ai gây dựng cho nên nỗi này... 1. Tối. Ngoài trời thiếu ánh trăng. Nam và những người đàn ông đã rời hang động từ mờ sáng. Trong cái rét căm căm, những người đàn bà quây quần bên nhóm lửa. Lạnh và đói. Mùa đông sắp tàn thì lương thực cũng cạn dần. Hơn bao giờ hết cuộc sống của tôi phụ thuộc hoàn toàn vào Nam và những người đàn ông hang động. Họ có cái mà tôi không có: sức mạnh để sống còn. Tôi có cái mà họ không có: nét đẹp của người đàn bà. Tôi nhìn ra ngoài mong ngóng. Đói và lạnh. 2. Trăng đã tròn. Những người đàn ông đang ồn ào nướng thịt. Chúng tôi ngồi trong góc tối yên lặng nhìn. Sau khi họ no nê, những người đàn bà sẽ chia đều phần sót lại. Nhóm lửa đã thành tro. Nam, sau khi hung bạo, thèm muốn với tôi, đã lăn ra ngủ như những người đàn ông khác. Tôi biết đây là nghĩa vụ của tôi. Những lúc đó, tôi có cảm giác của một cục đất. 3. Mặt trời ngột ngạt dưới đám mây đen. Mười ngày sau lần trăng tròn thứ chín. Nỗi đau quặn thắt từng cơn. Tôi nghe tiếng mẹ tôi và các chị nói bọng nước tôi đã vỡ. Tại sao những người đàn bà phải chịu cái cực hình khủng khiếp này. Tiếng mẹ tôi văng vẳng: cầu cho nó là con trai. Tôi lả người đi khi tiếng oe oe đầu đời của con tôi cất lên. Trong ràn rụa nước mắt tôi ôm đứa con trai vào lòng. Mặt trời đỏ au chiếu chỗ tôi nằm. 4. Buổi sáng. Rừng cây đã vàng lá. Chúng tôi đã rời khỏi hang động và sống trên những chòi cao. Cu Nam không còn quấn quít nhiều bên tôi nữa. Cha nó hằng ngày dẫn nó đi tập săn thú, làm chòi. Nó đã rời khỏi vòng tay tôi để tập làm đàn ông. Mẹ tôi nói đó là định mệnh của chúng tôi. Chúng tôi tiếp tục ngồi nhìn bóng mình, hoài vọng bước chân trở về của những người đàn ông. 5. Ngày thứ hai. Rừng cây trụi lá. Tôi sửa soạn hàng gánh ra chợ. Nam đã dọn xong mảnh đất cho mùa gieo mạ tháng tới. Đó là lúc mà tôi có thể phụ giúp cho Nam trong công việc đồng áng. Tôi cảm thấy mình không hoàn toàn là cái bóng của Nam nữa mặc dù tôi vẫn không được quyết định điều gì quan trọng trong gia đình. Tôi vẫn chỉ là người đàn bà đẹp với bộ óc thông minh chưa tự mình làm ra được áo cơm. 6. Mùng sáu, tháng thứ hai, năm Quý Mão. Dọc theo giòng sông Hát trắng một màu áo. Tôi ngồi xếp lại bộ quần áo lụa vàng lấm tấm máu. Tiếng voi trận còn văng vẳng như lúc thân xác tôi và em tôi chìm dần xuống giòng sông phẫn nộ sóng. Đất nước tôi lại trở về với bóng tối. Tôi lại trở về với chiếc bóng của tôi. Nhấp chén nước vối chát đắng tôi nghe có vị lạ thường. Nước sông Hát hôm nay sao mặn. 7. Nam đem về nhà thêm một người đàn bà khác. Tôi không còn khóc lóc, vật vã mình như những lần trước. Lợi ích gì khi phải làm khổ những người đàn bà vốn đã khổ hơn tôi. Tôi nhận thức được cái vòng tròn oan nghiệt vĩnh định của chúng tôi. Đè nén nỗi ghen tức và thù hận người cha của các con tôi trong ngăn kín, tôi tập yêu thương những người đàn bà của Nam. Sau hiên nhà, gió tru tréo qua từng chiếc lá chuối rách. 8. Tháng Tám. Mùa Thu. Tôi khan cổ khi viên đạn phá nát cái đầu gục xuống của già Nam. Tôi la hét những điều gì đó về một thế giới đại đồng, chuyên chính vô sản, đấu tranh giai cấp. Tôi tru tréo tưởng tượng những tội ác bóc lột của tên điền chủ già nua. Đứng trên cái xác không hồn, tôi thấy chân dung những gã đàn ông trần truồng hang động. Về nhà, trong căn phòng tối có những mảnh vải màu đỏ, Nam bế con, liếc mắt nhìn tôi e ngại. 9. Mùa hè. Gió nồm thổi bỏng mái tranh. Tôi sửa lại từng chiếc khăn tang trên đầu những đứa con sống thiếu cha từ lúc sinh ra đời cho đến khi tin dữ hốt hoảng về từ bên kia bờ Thạch Hãn. Trên những khuôn mặt thơ dại đó, tôi thấy Nam, thấy những giòng sống mải miết trôi ra biển. Đốt nén nhang cho một đám ma không xác, tôi hỏa táng niềm mơ ước của tôi và hạ huyệt chôn sâu hoài vọng của tôi về một thiên đường vô tăm tích. 10. Biển. Những ngọn sóng cuồng nộ đè cuốn thân tôi. Áo quần nồng mùi nôn mửa bị xé toạc bay theo gió. Tiếng gào của con gái tôi đứt khoảng và thưa dần. Tôi nhắm mắt, tôi che ngực, tôi kẹp chân. Đám mây đen hôi hám ập xuống thân tôi mang theo tiếng sét đâm ngút sâu vào tâm não. Tên hải tặc Thái Lan đứng dậy. Mở mắt, nhìn qua cái háng của gã đàn ông, tôi bắt gặp ánh mắt thẫn thờ tuyệt vọng bất lực của Nam từ những người đàn ông trên tàu. Tôi không còn nghe tiếng con gái tôi khóc nữa. 11. Buổi sáng. Chủ Nhật, đầu tháng, năm 2000. Mỗi ngày, tôi lầm lì với công việc đều đặn của một công nhân nô lệ. Tên chủ người Đài mắt hí nhưng nhìn rõ được cái ưu điểm cần cù, nhẫn nại và chịu nhục của những món hàng xuất khẩu lao động Việt Nam. Hắn đâu biết rằng chúng tôi còn có khả năng thu xếp, điều hành, tính toán chi li thần kỳ. Hắn đâu biết trong đời sống của chúng tôi, nhét hết mọi chuyện từ chồng con, bếp núc, tiền bạc, nhà cửa, công việc làm vào mười tám tiếng đồng hồ hết năm này qua tháng khác đã đào luyện cho chúng tôi một khả năng điều hành rất hữu hiệu. 12. Thứ Bảy. Tối. Tôi đang là giám đốc điều hành cho một công ty sản xuất máy vi tính. Bên ngoài, cơn mưa đầu mùa đã nhẹ hạt với tiếng hò văng vẳng từ bên kia sông Hương vọng lại. Thành phố lặng yên sau kết quả của cuộc bầu cử. Người phụ nữ đầu tiên đã được chọn vào trách nhiệm lèo lái đất nước nhờ vào tấm lòng nhân ái, con tim hiền hòa và khả năng tụ hội khéo léo, mềm mỏng. Có tiếng chồng con tôi ở phòng bên cạnh. Con trai đang nói về món ăn ngon nào đó vừa học được cách nấu. Con gái huyên thuyên về dự định thực hiện một trại hè huấn luyện nghệ thuật lãnh đạo ở Nghệ An. Nam đang ồn ào qua điện thoại về cô bạn cũ có con bằng phương pháp cấy tinh nhân tạo và nhất định sống không cần đàn ông. Tôi thấy mình bình an như gối mền. Tối nay, trước khi đi ngủ tôi sẽ đọc lại Chinh Phụ Ngâm để nhớ lại cái thuở mịt mù ban đầu và thương những bà mẹ từ nghìn năm trước: Tôi. 13. Thứ Hai, ngày Hai, tháng Hai, năm 2009. Nữ và Nam dừng lại trước căn nhà màu xanh da trời. Sau hàng hoa sáu cánh màu trắng, nắng chiếu vào cánh cửa có hàng chữ khắc: "Lương Tâm Nhân Loại Sẽ Yên Ổn Khi Thực Sự Có Sự Bình Đẳng Giữa Người và Người". Nữ đẩy cánh cửa bên phải. Nam đẩy cánh cửa bên trái. Theo khung cửa mở, những tia nắng ấm áp tỏa rộng, đều khắp căn phòng.

Tháng Giêng. Năm mới 2005. Sáng ngày 8, vịnh Bắc Bộ dậy sóng. Hai tàu tuần duyên của Trung Quốc xả súng bắn chết 9 ngư dân Việt Nam. 7 người bị thương nặng. 8 người bị bắt đem về đảo Hải Nam. Báo Nhân Dân và Thông tấn xã VN lẳng lặng im tiếng. Tất cả các tờ báo lớn khác, tất nhiên, không có gì để đăng tải về sự cố này. Ba ngày sau, cái loa Hà Nội mới mấp máy: "ngư phủ ta bị tàu lạ mang cờ hiệu nước ngoài bao vây, dùng súng bắn xối xả". Không một độc giả hay thính giả nào hiểu được nước ngoài là ai, hay vì sao chưa thể nói là ai. Một ngày sau nữa, báo Thanh Niên mới xung phong mở khẩu trang, đăng tin liên tiếp trong ba số báo. Còn nhà nước ta thì lên chương trình đại tiệc khấu đầu: ngày 13, Thủ tướng Phan Văn Khải tiếp đãi Cố Tú Liên và khẳng định rằng hiện nay, mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước phát triển rất tốt đẹp. Chưa hết. Tối 14, Đại sứ của Bắc Kinh tại Hà Nội là Tề Kiến Quốc chiêu đãi trọng thể mừng kỷ niệm lần thứ 55 ngày thiết lập quan hệ hữu nghị giữa hai nước và ban cho đôi lời phán: sẽ quí trọng và coi trọng phát triển tình hữu nghị truyền thống Hoa-Việt. Ngoan ngoãn tiếp lời, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên đã nâng cốc bày tỏ lòng tin tưởng sâu sắc rằng mối quan hệ này sẽ ngày càng phát triển tốt đẹp, đáp ứng lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, hợp tác, phát triển... Chín mạng người chỉ là một con số lẻ trong mối quan hệ răng rụng môi sứt. Những đôi môi bóng mỡ chưa kịp lau sạch sau những dạ tiệc tưng bừng kỷ niệm tình hữu nghị, thì ngày 15, Bắc Kinh chính thức tuyên bố 3 tàu đánh cá Việt Nam là hải tặc đánh cướp tàu đánh cá Trung Quốc và vì đó mà cảnh sát Trung Quốc đã nổ súng can thiệp. Im lặng nữa là đồng nghĩa với chấp nhận sự ươn hèn mà sĩ phu Hà thành đã nhận định về hai bản hiệp ước dâng đất, nhượng biển chưa ráo mực. Nên đành: ngày 16, đại diện Hà Nội ta gặp đại diện Bắc Kinh để trao công hàm phản đối và yêu cầu cho điều tra và xử lý nghiêm những kẻ đã bắn chết người. Nhiều người nhìn nhau: để xem tới đâu. Mà bao nhiêu người trong 80 triệu dân ta với niềm tự hào dân tộc cực kỳ cao sẽ quan tâm để xem tới đâu? Chợt nhớ một đoạn Chào buổi sáng của Thanh Thảo "...cứ nghĩ đến cảnh hàng mấy vạn người trên sân Mỹ Ðình lặng ngắt và như òa khóc lúc đội tuyển Việt Nam bị Indonesia dẫn 3-0 và mọi hy vọng đã tắt, ta mới hiểu bóng đá tác động thế nào đến một cộng đồng, một đất nước. Ðừng bao giờ đùa với nỗi đau như thế!". Chợt nhớ đến bài góp ý bạn đọc trên Talawas của Bùi Thị Lài "...mọi người lặng ngắt và như òa khóc vì thua một trận bóng, còn với tang tóc này thì không lẽ chỉ lặng ngắt và như òa khóc thôi sao? Nó sẽ tác động thế nào đến một cộng đồng, một đất nước?". Tang tóc mà Bùi Thị Lài nói ở đây là biến động vịnh Bắc bộ đấy. Biết vậy cho nên mấy hôm nay trên chiến trường ảo của thế giới điện toán, nơi mà đảng ta không đủ khẩu trang để bịt miệng, nhiều phát biểu cũng theo sóng cồn vịnh Bắc bộ mà nổi lên. Đảng ta ra sức ráo riết thuyết phục: Đảng vinh quang chỉ muốn tránh những hy sinh của nhân dân khi phải đối đầu lần nữa một cuộc chiến với Bắc triều (nên đành âm thầm dâng đất, nhượng biển, đưa ra vài yêu cầu phản đối lấy lệ); hoặc là nhân dân ta nếu có phẫn nộ thì cũng chỉ nên đoàn kết để lên án Trung quốc thay vì kể tội đảng ta; hoặc là dân ta sẽ không phản đối mạnh bởi dân mình cũng ngán chiến tranh rồi... Đảng và Nhà nước ta cũng đang nhìn vào phản ứng của nhân dân: Để xem tới đâu? Cho rằng cứ múa lưỡi gỗ đến gãy thì ai cũng thấy rõ đặc tính bạc nhược của đảng ta. Cũng vì nắm tẩy cái bạc nhược này mà Bắc triều đã chèn ép được đảng ta qua hai hiệp định dâng đất nhượng biển, rồi sau đó, qua những khẩu AK47 chỉa thẳng vào ngư dân Việt. Cũng vì bạc nhược nên đảng đã phải cố chứng minh với nhân dân là: Đấy, đảng đã lên tiếng rồi, đã phản đối và yêu cầu Trung Quốc cho điều tra, xử lý nghiêm những kẻ đã bắn chết người; còn thực hiện hay không là lỗi của Trung Quốc. Chấm hết. Máu của dân. Lỗi không phải của Đảng. Thắc mắc nữa là phá hoại tình hữu nghị, phá hoại nền hòa bình, là mắc mưu các thế lực thù địch… Lại chợt nhớ tới lần nhân dân ta bị lùa xuống đường Láng Hạ để phản đối Hoa Kỳ đưa quân vào Iraq. Bạn thân mến, Nếu có lần bạn đã ngậm ngùi bởi kết quả 0-3 của một trận bóng đá, thì lần này, cứ tạm coi đấy là kết quả 0-9 của một trận đấu khác mà trái banh là những viên đạn đồng đã phá thủng lồng ngực những người dân nước Việt: Lê Văn Xuyên, Nguyễn Văn Tùng, Nguyễn Xuân Trọng, Nguyễn Hữu Biên, Đinh Văn Đông, Nguyễn Văn Tâm, Trung, Hồng, Dũng. Đằng sau những mạng sống đó là nền tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc đã bị hiến dâng và còn đang bị đe dọa. Tương lai của 80 triệu sinh mạng khác còn tùy thuộc vào sự ươn hèn của một thiểu số hơn chục người gọi là Bộ Chính trị luôn cố chứng minh là không có lỗi. Mỗi người trong chúng ta có thể nào khoanh tay đứng đó, để xem đất nước đi về đâu không? Nhóm chủ trương Canh Tân
Đỗ Chương “Trí Tuệ Việt Nam” là một cuộc thi lớn cấp quốc gia, được bảo trợ bởi FPT, VinaCom và một số Cty tin học hàng đầu của VN, do chính Thủ tướng tận tay trao giải thưởng hàng năm, nhằm khuyến khích các bạn trẻ tin học ở đây ra sức sáng tạo viết lập trình và ứng dụng các phần mềm vi tính. Năm ngoái, nhóm iCMS đoạt giải thưởng vinh quang này qua một sản phẩm cùng tên có công dụng tự động thu thập, phân loại, truy nguyên và sắp xếp thông tin lấy xuống từ các trang web theo mệnh lệnh cài sẵn để dễ dàng sử dụng về sau. Sản phẩm iCMS sau đó đã được Cty VinaCom mua trọn gói với giá 10 tỷ đồng rồi bán lại với lợi nhuận cao cho báo Công An TP, đài Truyền Hình VN và một số Ủy Ban Nhân Dân tỉnh… Sự cố bùng nổ khi có người phân tích các dòng code lập trình của iCMS rồi so sánh với các nguồn mã mở trên trang web CMS.net của một tác giả ở Canada để kết luận rằng đây là một sản phẩm sao chép bất hợp pháp. Lại có người nêu lên sự liên hệ mật thiết giữa 1 trong nhóm 4 tác giả của iCMS với giám khảo Vương Vũ Thắng trong ban tổ chức TTVN (và là chủ nhân Cty VinaCom), nhằm vạch trần tinh thần vụ lợi của ban giám khảo. Những chứng cứ của 2 cấp gian lận này nhanh chóng tràn ngập trên diễn đàn Tin Tức VN của VinaCom, đến mức VinaCom phải quyết định tẩy xóa các chứng cứ đó trên trang nhà. Sự phẫn nộ của giới quan tâm lên đến đỉnh điểm tại đây: Nhóm HackerVN tố cáo iCMS và VinaCom cấu kết tạo điều kiện gian lận trong giải thưởng TTVN nhằm mục tiêu vụ lợi trên một sản phẩm trí tuệ ăn cắp; và sau đó, nhập mạng để xóa trắng trang nhà Tin Tức VN của VinaCom. Bấy giờ, dàn báo chí VN tập trung công kích và lên án nhóm HackerVN đã xóa mạng của VinaCom lại gia tăng sự căm phẫn của dư luận được chuyển tải dồn dập trên Diễn Đàn Tin Học. DĐTH này chuyên về lãnh vực tin học thuần túy và không phải là diễn đàn lớn nhất. Anh Dương Vi Khoa, đại diện DĐTH, đã cùng 2 bạn trẻ ra tận Hà Nội để đặt vấn đề với BTC/TTVN tại trụ sở đại Cty FPT (98 Láng Hạ). Hai câu hỏi đơn giản được đặt ra là: 1) Mối liên hệ giữa giám khảo và tác giả đoạt giải?; và 2) Hướng giải quyết của BTC/TTVN?. Thay vì được trao đổi quan điểm với iCMS, nhóm DĐTH lại bị BTC/TTVN thẩm vấn về lý lịch nhân thân và đòi DĐTH đệ đơn khiếu nại trong vòng 72 tiếng thì mới được cứu xét. Vi Khoa đã thu băng toàn bộ phiên họp và tải lên DĐTH để công luận phán xét. Ý kiến chung cho rằng quả bóng trách nhiệm đang nằm trong chân của BTC/TTVN nên DĐTH không cần đơn từ gì sất. DĐTH đã trưng cầu ý kiến thành viên và lấy quyết định sau cùng là không viết đơn khiếu nại, nhưng tiếp tục trưng bày sự thật. Trong tiến trình góp ý sôi nổi đó, có một người tự xưng là người của báo Công An TP lên tiếng yêu cầu mọi người hãy ngưng ngay mọi trao đổi ý kiến. Các thành viên của DĐTH đã tranh luận sát sườn về quyền phát biểu, đến mức anh này phải rút lui. Trong khi đó, lạ lùng thay, ngoại trừ hai tờ báo điện tử Tuổi Trẻ & VnExpress là có thái độ thông tin chuộng khách, dàn báo chí còn lại ở đây lại đồng loạt phán quyết một bản án là DĐTH “cấu kết với thế lực nước ngoài để đánh phá Nhà Nước ta”, đồng thời, đề nghị công an phải nghiêm nhặt theo dõi anh Dương Vi Khoa! Sự cố này càng khiến cho nỗi căm phẫn của giới trẻ quan tâm chuyên chở trên các web-forums ở đây trở thành quá tải. Cho đến ngày 22/12/2004, BTC giải TTVN mới ra quyết định thu hồi giải thưởng này từ iCMS. Lúc đó, dàn báo chí chính quy mới đua nhau tường thuật kết quả. Qua thành quả này của nhóm DĐTH, người ta có thể ghi nhận được gì? (1) Từ việc lấy cắp tư tưởng đến việc lấy cắp nguồn mã lập trình là một tiến trình thuận của định hướng quá độ và rất đáng xấu hổ. Trí tuệ VN không tồi đến thế! (2) Các web-forums nhỏ bé ở đây là nơi tập trung mọi ý kiến không thể đăng tải trên dàn báo chính quy khổng lồ của Nhà nước ta. Nhưng lại là ý kiến của số đông. Bỗng dưng lại làm lộ rõ tính nô bộc của hệ thống truyền thông chính thống, chuyên trách việc lên án những ai dám làm đúng chức năng của truyền thông là nói lên sự thật. Lại làm lộ rõ thêm tính dũng cảm của giới trẻ quyết bảo vệ quyền phát biểu vượt qua sức cản của công an bịt miệng. (3) Những diễn đàn này, ngoài đích nhắm cho sự phát triển chuyên ngành, còn là nơi trao đổi vì mục tiêu đấu tranh cho công bằng xã hội bằng chính nhiệt huyết của thanh niên và theo đúng khẩu hiệu của Nhà nước. (4) Trong thế giới tin học toàn cầu ngày nay, các trang web đều có những lợi thế nhất định. Trong trường hợp cần thiết, việc xóa sổ 1 trang web lớn của các quan chức phi pháp cũng có thể được coi là 1 loại chiến thuật ở xứ sở luật rừng, để gây sự chú ý rộng lớn. (5) Giới trẻ đã thực sự trưởng thành trong sinh hoạt chung: không trực tiếp đối đầu với hệ thống bạo lực và truyền thông đang bảo vệ điều sai. Họ chỉ trưng ra trước công luận những điều sai trái đó và đòi hỏi sự thật, để công luận phán xét. Sự phán quyết và lựa chọn này chính là sinh hoạt căn bản của dân chủ đa nguyên. Họ cũng đã thực sự trưởng thành trong sinh hoạt dân chủ nội bộ: dùng trưng cầu ý kiến để lấy quyết định tối hậu. Đó là cách ứng dụng sức mạnh đa số trong nội bộ để vận động sức mạnh đa số ngoài xã hội. (6) Mặt khác, giới trẻ đã trưởng thành trong ứng xử: quả quyết và dũng cảm trong hướng đi, nhưng ôn hòa và chừng mực trong hành động với Nhà nước, kể cả lúc phải lấy quyết định bất hợp tác, không điền đơn, hoặc không để Nhà nước ghép cớ tiêu cực cho diễn trình đấu tranh đầy chính nghĩa này. Với một vài ghi nhận sơ khởi vừa nêu, người ta thấy an tâm khá nhiều về phương cách đấu tranh khoanh vùng của giới trẻ VN. Xin trang trọng gửi đến các bạn trẻ của Diễn Đàn Tin Học một đóa hồng vươn lên từ khu vườn khát vọng mọc xuyên qua những hàng kẽm gai rỉ sét. Kèm theo đó là một niềm hãnh diện vô bờ. Không phải ở thành quả thu hồi giải thưởng, mà là ở chỗ, rõ ràng, tuổi trẻ đang giành quyền phát biểu và tạo tư thế phát biểu bằng hậu thuẫn của đại khối quần chúng. Vấn đề còn lại, nối kết những cuộc đấu tranh khoanh vùng ở nhiều lãnh vực này lại cho giáp mí với nhau, chỉ còn là sự điều phối liên hợp của những người hằng tâm vì dân tộc và dám xả thân cho đất nước?
Lê Trực
“Con nghiện” là một khái niệm tương đối phổ biến và dân dã trong giai đoạn này, dùng để chỉ những người bị lệ thuộc vào ma túy, bất kể già hay trẻ, nam hay nữ, vua chúa quyền cao chức trọng hay là dân thường cùng đinh mạt hạng. Nhân dân dùng từ “con nghiện” là vì đối với những người nghiện ma túy, phần “con” đã lấn át phần “người”. Nếu coi Chính phủ là một bộ máy với những chi thể rõ ràng như một con người, thì trong Chính phủ Việt Nam, cái phần “con” lớn hơn rất nhiều so với phần “người”. Hiện nay, ở nhân dân ta, phần “người” quá lớn, quá nhân đạo và vị tha, ngược lại phần “con” trong Chính phủ lại quá lớn, quá vô nhân đạo và đầy lòng vị kỷ. Gọi chính phủ là một con nghiện là một phép so sánh có vẻ khôi hài nhưng lại rất gần gũi trong điều kiện Chính phủ Việt Nam ta hiện nay.Thứ nhất: Chính phủ Việt Nam là một Chính phủ dật dờ như con nghiện. Nói đến con nghiện, người ta hay nói đến chữ “dật dờ”. Dật dờ khi thiếu thuốc, dật dờ khi “chơi” thuốc và dật dờ khi “phê” thuốc. Chính phủ Việt Nam hiện nay cũng vậy, tự nó không có lòng tin vào chính mình, lảo đảo nhưng chưa ngã, liêu xiêu nhưng còn nhìn ra tường vách để bấu víu, loạng choạng nhưng vẫn liều lĩnh bước đi. Chính phủ dật dờ vì không còn ai tin vào quyền năng của chính phủ: Tháng nào cũng vậy, trong cuộc họp chính phủ, ông Khải cũng ngồi nhai đi nhai lại những kiến thức cũ mèm với một cái giọng “rè” quá mức. Các thành viên nội các ngồi dật dờ ngáp vặt, y như những con nghiện tới cơn, hết buổi họp hầu như không biết hôm nay bàn về vấn đề gì. Dật dờ vì một mặt hô hào quần chúng đi theo con đường xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản, mặt khác, mỗi một thành viên Chính phủ lại ráo riết chuẩn bị cho những phương án cách mạng tư bản, đưa con cái đi đào tạo ở Anh, ở Mỹ, ở Úc... Chính phủ dật dờ vì không còn ai tin vào đảng cộng sản nhưng vẫn ngoài mặt tán dương những chủ trương chính sách của Đảng và cụ thể hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật. Dật dờ vì tự thấy ra là công bộc, phục vụ nhân dân nhưng đang cố đè đầu cỡi cổ nhân dân, bóc lột nhân dân thậm tệ, hay vì “trên bảo dưới không nghe và bộ máy chúng ta đang hư hỏng” (lời ông Phan Văn Khải). Chính phủ dật dờ vì đang nói về chống tham nhũng mà vẫn coi tham nhũng là điều đương nhiên và ra sức bao che cho nó, tức là cho chính mình. Dật dờ vì mâu thuẫn nội bộ với nhau trầm trọng nhưng vẫn ràng buộc với nhau bằng sợi dây tư lợi. Dật dờ vì Nhân dân Việt Nam tưởng như có thể đập tan nó không mấy khó nhưng thực ra còn đang tìm cách xem bắt đầu từ đâu và liên kết với nhau ra sao. Tưởng nó dật dờ từng cơn rồi thì sẽ chết nhưng có vẻ cũng còn thoi thóp. Nó dật dờ vì nó biến thái và lật lọng. Dật dờ vì chính nó mệt mỏi và thiếu sức sống. Nó dặt dẹo.Thứ hai: Chính phủ Việt Nam đang là một con nghiện vì rất cực đoan, tâm tính thất thường. Con nghiện luôn có tâm lý bất bình thường, khi thì rất hiền, khi thì rất ác. Ở Nam Định, một con nghiện suốt ngày tỉ tê nói chuyện nhân ái với bà ngoại, thế mà khi khát thuốc, nó đã giết chết bà để lấy 50.000 đồng mua tạm một liều (báo An Ninh tháng 8, 2003); Ở Quảng Ninh, một con nghiện đã từng được cả xóm coi là hiền lành, thế mà đã đốt cả vợ và 2 đứa con nhỏ vì không cho nó 100.000 đồng đi mua “hàng trắng” (báo Tiền Phong). Chính phủ cũng vậy, bề ngoài hiền như bún khô nhưng bên trong đã tẩm mật cá nóc. Biểu hiện cụ thể nhất là cái mà tất cả thành viên Chính phủ đều đã từng đứng trước và thiêng liêng tuyên thệ - Ngọn cờ Đảng cộng sản. Duy nhất chỉ có Búa với Liềm trên một nền máu đỏ: Chủ yếu là đập dập và cắt cứa. Chính phủ phản động hiện nay của Nhân dân ta đang cố giữ hình ảnh ôn tồn qua chiêu bài phục vụ nhân dân nhưng sẵn sàng huy động cả quân đội, cảnh sát, tòa án… để tàn sát, bắt bớ hàng trăm nông dân nghèo không một tấc sắt trong tay, thậm chí thủ tiêu nhiều người, chỉ vì họ nói hoặc viết ra những điều tốt đẹp, tỉ dụ như: Phải có dân chủ, phải có đa nguyên, phải chống tham nhũng… Con nghiện tàn ác nhất thời để có liều thuốc khẩn thiết cho cơn giật tại chỗ. Còn Chính phủ tàn ác với số đông là để kéo dài cơn mê quyền lực độc đảng thống trị Nhân dân.Thứ ba: Chính phủ Việt Nam đang là một con nghiện đủ thuốc. Bất cứ “con nghiện” nào cũng đều béo tốt nếu nó đủ thuốc. Chính phủ Việt Nam cũng vậy, nó đang đủ thuốc. Hầu hết những người lao động vất vả kiếm tiền thì ít có điều kiện để nghiện, còn con nghiện thường dùng tiền của người khác để “chơi” cho đã. Chính phủ Việt Nam, với mức lương của tất cả các thành viên đều rất thấp, không thể có đủ tiền riêng để tiêu xài hoang phí. Họ dùng tiền của Nhân dân để chơi thuốc. Thuốc ở đây không chỉ còn là hàng trắng mà là gái, cả những em bé chưa đến tuổi thành niên, bị những người ở hàm thứ trưởng phá trinh “cho vui” (Lương Quốc Dũng). Thuốc ở đây là nhà lầu hàng chục tỷ đồng, là những chiếc xe trị giá 3,000 con trâu. Đúng! Nhân dân lao động chúng ta không thể tiêu xài hoang phí vì con trâu có thể kéo mãi được cái cày chứ không kéo mãi được sự xa hoa như cựu Bí thư Thành ủy Hà Nội Hoàng Văn Nghiên đang làm, cưỡi trên chiếc xe sang trọng giá 5 tỷ đồng. Con nghiện thường bòn rút tiền của những người thân trước khi đi lừa ngoài xã hội. Còn Chính phủ thì nhân danh Nhân dân để ăn cắp tiền của Nhân dân, thông qua từng lít dầu moi lên ở Vũng Tàu (Tham nhũng ở Dầu Khí) đến những hòn than được khai thác ở Quảng Ninh (Tham nhũng ở Tổng Cty Than VN), thông qua từng cú điện thoại mà Nhân dân gọi điện cho nhau (Tham nhũng ở Viễn Thông), thông qua từng ánh đèn nơi con em nhân dân chúng ta học đọc, học viết giữa đêm khuya (Tham nhũng trong Điện lực). Chính phủ Việt Nam ở đầu thế kỷ này thực sự béo tốt, cái béo tốt của một con nghiện đủ thuốc. Mỗi một thành viên Chính phủ bây giờ đang đủ thuốc: Chính phủ là một con nghiện lớn, là ông Tổ của các con nghiện, đẻ ra và nuôi dưỡng nhiều con nghiện nhỏ trong xã hội. Thứ tư : Chính phủ là một con nghiện nói hay và hay nói. Một câu tục ngữ đang rất phổ biến hiện nay là “Đừng nghe con nghiện năn nỉ, đừng đi dạy đĩ vén váy”. Con nghiện nói rất hay, vì vậy rất nhiều người trong chúng ta đã bị con nghiện lừa ít nhất một lần. Chính phủ ta cũng vậy, đang lừa phỉnh được rất nhiều người. Chính phủ nói rằng “nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nhờ sự chỉ đạo tài tình của Chính phủ, nhân dân ta đã thoát được đói nghèo”. Nhưng thực ra Chính phủ đã làm được gì cho nhân dân? Thoát nghèo là từ dân, do những sáng kiến và do sự lao động của dân. Chính phủ ra sức kìm kẹp, đè nén nhân dân, khi không thể đè nén được nữa, buộc phải mở cửa thì lại nói là do chính sách của mình. Chính sách khoán ruộng là một điển hình. Không mấy khó để nhận thấy được sự trơ trẽn hoặc thô lỗ của những con nghiện. Nhân dân ta cũng vậy, cơ bản họ hiểu được là Chính phủ đang cướp công và cướp tiền của họ. Chính phủ đang nhân danh họ để “hót” với thế giới hầu mong có nhiều viện trợ, nhiều đầu tư để các thành viên Chính phủ lại “no thân ấm cật”. Con nghiện đôi khi cũng làm được một đôi điều phúc đức. Chính phủ Việt Nam hiện nay cũng vậy, có làm được đôi điều ví dụ như xây dựng được một số cơ sở hạ tầng. Nhưng cũng giống như con nghiện, khi nó làm một điều gì đó tốt là vì nó không phải bỏ tiền ra và lại nhìn thấy lợi ích của chính nó trong đó. Chính phủ đầu tư xây dựng, còn tiền trả nợ là thuộc về Nhân dân. Hiện nay mỗi tháng một người dân đã phải trả lãi 8 USD cho ngoại quốc, đó là do tiền vay và tiền vay đó đã bị các thành viên Chính phủ cắt xén bớt đi: Chương trình 135 đã thành 531. Chính phủ nói tài lắm, y như con nghiện vậy, và nếu chạy theo để lật mặt một kẻ lật lọng thì chừng nào mới hết mặt, vì nó tráo trở. Thứ năm: Chính phủ là tập hợp của nhiều con nghiện thật sự. Rất nhiều chuyên viên là con cái của các cán bộ lãnh đạo trong Chính phủ nghiện ma túy. Khi thứ trưởng Mai Văn Dâu và con trai bị bắt, nhân dân mới biết được rằng cả 2 đứa con của ông đều đang xài “hàng trắng”. Cà hai, một đã bị bắt, một đang học ở Anh, đều rất béo tốt vì đủ thuốc. Trước đó, Bộ Kế hoạch Đầu tư thông báo toàn Bộ có hơn 24 chuyên viên đang nghiện ma túy. Con của Nguyễn Thiện Luân - cựu thứ trưởng Bộ nông nghiệp cũng nghiện nặng. Còn con cái của những người cao hơn ở hàm Chủ tịch hoặc là Phó chủ tịch nội các thì không những nghiện mà còn là chủ của những sàn nhảy lớn ở Hà Nội và Sài Gòn, nơi phân phát ma túy tổng hợp cực mạnh dưới dạng viên (hồng phiến, extasy…). Dù cho giới chức quyền này có nỗ lực cai nghiện thì khả năng tái nghiện là nhãn tiền. Đó là vì trong túi họ có rất nhiều tiền, còn ngoài xã hội thì có rất nhiều ma túy. Người ta mua bán công khai, có chợ họp thật đông đúc, xôm tụ. Đó là vì không có pháp luật để răn đe và hệ thống công an lấy nghề bảo kê làm chính. Tại bến xe Kim Mã, các con nghiện đua nhau vạch quần ra mà chích, cầm lấy kim tiêm mà rượt đuổi bảo vệ bến xe (báo VNexpress). Đó là vì nhân dân đang sợ cho riêng cá nhân họ. Họ sợ chính phủ như sợ một con nghiện ma túy. Vừa cực đoan, hãi hùng lại vừa canh cánh, sát sườn đối với mỗi người dân. Thứ sáu: Chính Phủ Việt Nam giống hệt một con nghiện vì đang mất khả năng miễn dịch. Chuyện thường thấy nhất ở con nghiện là chết bởi bệnh AIDS vì bị suy giảm khả năng miễn dịch của cơ thể. Tại vì nó hay dùng kim tiêm chung với nhau và quan hệ tình dục bừa bãi, theo ngẫu hứng. Điều đó giống như Chính phủ thích dùng bạo lực trong khi không thật cần thiết. Họ thích tự kích thích chơi cho vui, nổ súng cho vui, lấy nhân dân làm thí nghiệm cho vui. Con nghiện cũng thường quan hệ tình dục với nhiều người, hầu hết là với gái điếm. Chính phủ ta cũng vậy, hay chơi với điếm, chửi đứa Trung Hoa chán rồi bây giờ lại vơ nó vào nhà, đặt lên bàn thờ trang trọng. Hiện nay thì AIDS chưa có thuốc chữa. Chính phủ ta đã nhiễm HIV từ những năm 90 của thế kỷ trước và đang chuyển sang giai đoạn AIDS. Tùy thuộc vào từng bệnh nhân nhưng thông thường bệnh nhân AIDS chỉ có thể sống lâu nhất là 10 năm. Còn muốn chủ động rút ngắn thời gian đó để ngăn chận lây lan những di hại lâu dài của nó, thì, hoặc là Nhân dân phải đưa giúp Chính phủ vào trại cai nghiện cô lập, hoặc là phải thay thế nó bằng một Chính phủ lành mạnh. Có khi là cả hai, cùng lúc. Hãy cùng nhau chủ động giành quyền chọn lựa đội ngũ quyết định sự thăng tiến của con người và sự phát triển của đất nước. * Lê Trực là 1 cán bộ từng làm việc nhiều năm qua nhiều chức vụ khác nhau ở cấp Bộ của Chính phủ trong lãnh vực bài trừ ma tuý, và từng tham dự nhiều lần trong các phái đoàn VN công tác tại nước ngoài từ năm 1987.