skip to main |
skip to sidebar
Lưu Tấn Đông
Trong cuốn phim "Jakob, Kẻ Nói Dối" (Jakob the Liar), nhân vật chính Jakob, một tù nhân Do Thái trong trại tập trung của Đức Quốc Xã ở Ba Lan, tình cờ được vào phòng làm việc của một sĩ quan quản giáo người Đức. Giữa cơn đói triền miên, Jakob định nhón một mẩu khoai tây trên bàn, nhưng chợt nghe một bản tin từ cái radio để sát tường. Cơn đói bụng bị cơn đói tin đánh quỵ. Jakob nhìn lên bản đồ, định vị những điểm tiến quân của Hồng quân Xô Viết vào biên giới Ba Lan, rồi mang mẩu tin ngắn đó về lán. Từ đó, Jakob tự chế tạo và thậm chí thổi phồng những ước mơ riêng của mình thành những bản tin tưởng tượng để nuôi dưỡng niềm hy vọng của tù nhân về một ngày tự do. Kết quả là ý chí thành lập tổ kháng cự của các bạn đồng tù. Thế mới biết giá trị của món ăn tinh thần cao gấp bội lần những món ăn vật chất. Sau giai đoạn phát xít Đức, Ba Lan và các quốc gia Đông Âu bị cuốn vào quỹ đạo XHCN. Chính sách tem phiếu và bức màn sắt phủ chụp toàn bộ hệ thống kinh tế và thông tin: cả ngũ cốc lẫn thức ăn tinh thần đều bị gói gọn trong tay đảng. Ngũ cốc được ban phát ít nhiều như một loại ân sủng, nhưng tin tức thì không. Dưới chế độ quản lý nghiêm nhặt bao tử và não bộ, nhân dân đã không tin nhau và không biết tin tức về nhau. Cho tới khi Công Đoàn Đoàn Kết vượt rào, Ba Lan dậy sóng, giật sập các loại màn sắt màn tre, đạp đổ bức tường Bá Linh, kéo theo sự tan rã của Quốc tế III sau đó. Các bức màn sắt màn tre còn sót lại ở VN cũng cùng chung số phận trước sự nhanh nhạy của hệ thống thông tin quán cóc, xe ôm và hớt tóc dạo. Nhanh nhạy hơn cả là những café internet. Nguyên ủy viên trung ương Trần Hồng Quân đã từng hỏi khó Mai Chí Thọ: “Tôi thấy gần đây dường như Ðảng ta có phần chặt chẽ hơn, hẹp hòi hơn, độc quyền hơn. Có phải chăng ta thiếu tự tin ở chân lý của mình, thiếu tự tin ở bản lĩnh chính trị của mình?”. Từ bấy, nhu cầu cấp thiết của đảng ta là những bức tường lửa internet. Lý cớ chính thức là để chống văn hóa đồi trụy. Lý cớ nội bộ là để giữ ổn định chính trị. Các trang Web “phản động” lần lượt bị chận: rfa.com, fva.org, mangluoi.net, mylinh.us,... Mới đây là diễn đàn văn học talawas.com. Đối thoại về văn học cũng là “phản động” ở thời đại này. Tất nhiên, cán bộ Ban Tư Tưởng-Văn Hóa đều có mật khẩu để nhập mạng. Tất nhiên, nhân dân cũng có muôn ngàn ngỏ ngách để vượt tường. Thời dựng thành Cổ Loa, dân ta đã ngày xây đêm phá, thì hackers VN ngày nay có mấy khi ngồi đó khoanh tay? Hệ quả là hẽm nhỏ www.proxify.com bật đèn. Hầm chui www.chaoga.com náo nhiệt, rẻ gấp bội lần hầm chui Văn Thánh. Còn nữa. Còn hứa hẹn thêm những chaohuyet.com, chaolong.com… Mới biết ra, hễ có tường thì tất yếu có cách vượt tường. Nhìn ngược lại, rõ ràng, Cải Cách Ruộng Đất là chính sách khuyến khích tội ác; Hợp Tác Xã là mô hình đề cao tính trây lười; Tem Phiếu là phương thức phát huy tinh thần ỷ lại; Tiêu Diệt Tư Sản là kế hoạch đẩy dân vượt biên vượt biển; Ngăn Sông Cấm Chợ là cha đẻ của buôn lậu, từ xuyên ranh giới huyện tới xuyên biên giới nước; Ổn Định Chính Trị là chính sách vinh danh bạo lực, dưỡng mẫu của nạn bảo kê... Hôm nay, Tường Lửa Internet cũng là thứ chính sách ngu dân và khuyến khích nhân dân leo tường, vượt cổng. Có nghĩa rằng, đi từ chính sách triệt tiêu tính người thời Cải Cách Ruộng Đất, Đảng và Nhà Nước ta đã đổi mới và tiến lên chính sách khuyến khích và điều kiện hóa cho nhân dân sống phi pháp. Để chi ? Còn gì nếu không phải chỉ để bảo vệ một chế độ vốn dĩ thoát thai từ hai yếu tố phi nhân và phi pháp? Vạn Lý Trường Thành cũng từng được xây dựng trên hàng triệu xác dân, để bảo vệ chế độ, nhân danh bảo vệ bờ cõi, như thế đấy. Các vì vua hôn ám thời đó chỉ không thấy ra rằng về sau này, bức tường chỉ còn mang ý nghĩa của một tụ điểm du lịch. Giá trị kỳ quan của nó chỉ còn thu gọn vào một câu: nhất tướng xây thành, vạn cốt khô. May mà nhân loại có dịp chiêm ngưỡng một công trình để đời vào cuối thế kỷ 20: Bức tường Bá Linh ô nhục đã sụp đổ mà không tốn một viên đạn, một giọt máu. Mới hay là đúng, sức tiến của nhân loại trong thế kỷ qua đã sánh ngang bằng sức tiến của cả 19 thế kỷ trước gộp lại. Thế thì, khi màn sắt đã chảy, màn tre đã cháy, liệu tường lửa của thời đại kỹ thuật hôm nay đứng vững bao lâu? Chẳng thế mà nguyên ủy viên BCT Mai Chí Thọ than rằng: “chẳng bao lâu nữa, Đảng mất quyền lãnh đạo”. Còn thành ủy viên kiêm trưởng ban tuyên huấn TPHCM Dương Đình Thảo thì khẳng định rằng: “Bây giờ nó có những cái chuyển biến là không lường trước được”. Các vì vua hôn ám thời nay cũng chưa chắc đã thấy ra tác dụng ngược của những mô hình chính sách tuyên dương nếp sống phi pháp hiện giờ. Hãy dẹp ngay bức tường vô năng vô hiệu đó để mọi người cùng sống ngay thẳng với nhau. Hãy dẹp ngay tường lửa để dọn đường hòa nhập cùng thế giới văn minh, trước khi gia nhập WTO. Hãy dẹp ngay tường lửa để các xa lộ thông tin có cơ thắp sáng trí tuệ của toàn thể nhân dân VN.
Trần Thiên Ân
Phần một: Canh Tân Con Người trong Lịch Sử Việt Nam Cận Đại Sự thua kém quá xa của Việt Nam so với Pháp và sự thất bại của quân ta trước lực lượng Pháp vào thế kỷ thứ 19 đã làm ông Nguyễn Trường Tộ dâng sớ lên triều đình xin canh tân, học hỏi người ngoài để đất nước có thể phát triển và tồn tại. Ông cũng đề nghị những phương cách để thu hồi tự chủ. Đề nghị này đã bị bác. Vì tinh thần cổ hủ của vua quan cũng có, nhưng cũng vì mối lo sợ bị nô lệ hoàn toàn khi đối tượng chính để học hỏi là Pháp, một nước đang thôn tính và chiến thắng nước ta. Ngoài ra, ông Nguyễn Trường Tộ là người “khó có thể tin được”, bởi triều đình thời đó. Vì ông theo đạo Thiên chúa và được các giáo sĩ Pháp bảo trợ cho đi Pháp du học, từng làm thông ngôn cho các đô đốc hải quân Pháp. Cho nên kế hoạch canh tân của người Thiên chúa giáo yêu nước này đã bị vất bỏ. Sau khi Pháp hoàn toàn làm chủ nước ta, vì sự thất bại của các phong trào Cần Vương, các nhà yêu nước đã bừng tỉnh thấy rằng không thể nào đấu tranh giành độc lập nếu trình độ khoa học kỹ thuật quá thấp kém. Hai cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đã là những người cổ võ tinh thần cầu học đổi mới. Năm 1904, cụ Phan Bội Châu bí mật lập Duy Tân Hội. Hai cụ Phan đã sát cánh với nhau, tán thành việc phổ biến một nền giáo dục phổ thông bằng cách dùng chữ quốc ngữ, kêu gọi thành lập các hội đoàn để phát triển thương mại, thủ công và kỹ nghệ bản xứ, đồng thời mở các lớp học trong công xưởng. Từ năm 1906, tổ chức ngầm những cuộc du học sang Nhật (phong trào Đông Du). Năm 1907 Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập tại Hà Nội, dùng chữ quốc ngữ để dạy học trò những kiến thức mới. Các thầy giáo tự bỏ bộ quần áo cổ truyền bằng lụa Tàu mà mặc âu phục, bỏ búi tóc mà cắt tóc ngắn theo kiểu Tây. Cụ Phan Bội Châu tiếp tục theo chế độ quân chủ, quay sang Nhật là nước đã canh tân thành công để học hỏi và tìm đồng minh. Cụ Phan Chu Trinh dè dặt cho rằng chủ trương dùng Nhật đuổi Pháp là nguy hiểm. Vì "một khi quân Nhật vào thì có thể sẽ khó mà đuổi họ ra". Sau khi Nhật ký hiệp ước thương mại với Pháp, trục xuất cụ Phan Bội Châu và các du học sinh ra khỏi Nhật năm 1909, thì cụ Phan chu Trinh không còn cùng hướng hoạt động với cụ Phan Bội Châu nữa. Sang Tàu ở, cụ Phan Bội Châu tiếp tục con đường đấu tranh võ trang. Nhiều du học sinh theo cụ được gửi vào học trường võ bị Hoàng Phố. Cụ Phan Chu Trinh ở Việt Nam theo hướng xây dựng một nước cộng hòa, chống triều đình tham nhũng thối nát, đấu tranh ôn hòa với người Pháp, đòi họ phải thực thi các điều cao đẹp của khẩu hiệu chính trị "Khai Hóa Việt Nam". Trong nỗ lực kêu gọi đổi mới đất nước, cụ Phan Chu Trinh đã nhận ra một cản trở quan trọng là cái ì tính của quần chúng. Đây là phản ảnh tâm thức của một xã hội nông nghiệp không muốn thay đổi, không có tinh thần mạo hiểm và là phản ảnh đặc tính của đa số quần chúng, nói chung ngại sự bất ổn. Vì thế mà cụ Phan đã phải đưa ra những khẩu hiệu và phong trào vận động quần chúng cắt tóc, thay đổi y phục. Các thầy gíáo dạy ở Đông Kinh Nghĩa Thục đã cắt tóc và mặc âu phục để làm gương là vì như vậy. Những vận động đổi mới này đã được tiếp tục trong các sách báo quốc ngữ, nhưng với những xu hướng chính trị khác nhau. Tạp Chí Nam Phong do Phạm Quỳnh chủ trương là của các người đổi mới trên tinh thần hợp tác với Tây và triều đình. Các báo Phong Hóa, Ngày Nay của Tự Lực Văn Đoàn chủ trương đổi mới trong cách sống, thiên về hướng đấu tranh v.v... Một nhân vật đặc biệt ngoài hai cụ Phan là Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh. Ông Hồ là người thành công trong khi tất cả những nhà yêu nước khác đều thất bại. Tại sao ông Hồ đặc biệt? Trong lá thư gửi cho tổng thống cộng hòa Pháp ngày 15 tháng 9 năm 1911 để xin vào học trường thuộc địa, khi làm phụ bếp trên tàu Latouche Trevilliers, ông Hồ ký tên là Nguyễn Tất Thành, sinh năm 1892, con ông phó bảng Nguyễn Sinh Huy, bày tỏ ý muốn đổi mới như sau: "Tôi hoàn toàn không có nguồn kiếm sống và rất ham học hỏi. Tôi ước mong trở thành hữu ích cho nước Pháp trước đồng bào tôi và cũng đồng thời muốn cho đồng bào tôi được hưởng những lợi ích mà học vấn đem lại". (Je suis entièrement dénué de ressources et avide de m'instruire. Je desirerais devenir utile à la France vìs a vìs de mes compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter les bienfaits de l'instruction)". Lá thư đã bị vất xó. Sau đó ông Hồ đã làm các nghề mọn kiếm sống ở Pháp và liên lạc hoạt động với nhóm cụ Phan Chu Trinh, dầu ông ít tuổi hơn nhiều. Qua thư này có thể nói rằng ông Hồ mới đầu có ước vọng làm quan cho Pháp để giáo hóa dân. Tương tự như nhóm Phạm Quỳnh. Việc không thành, đưa đẩy ông vào đảng Cộng sản Pháp và đã nói lên con đường đổi mới dân tộc bằng câu sau đây "Luận cương của Lenin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi trong buồng một mình mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!". Tóm tắt, ông Hồ chủ trương canh tân con người Việt Nam bằng chủ nghĩa Cộng sản. Nói khác đi là thay thế những quan điểm văn hóa cổ truyền tam giáo Khổng-Lão-Phật lâu đời và những tư tưởng tự do dân chủ Tây phương mới du nhập, bằng quan điểm Mác Lenin Stalin, Mao Trạch Đông mà hình ảnh được trưng bày một cách tôn kính trong các dịp lễ hội. Sau khi chiếm được chính quyền năm 1945, ông Hồ Chí Minh đã đẩy mạnh sự đổi mới tóm gọn bằng khẩu hiệu "xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa". Trên lý thuyết đã có nhiều giải thích các đặc tính con người mới xã hội chủ nghĩa. Trong thực tế đã có những biện pháp nghiêm khắc để đào tạo con người này. Nhưng sau trên nửa thế kỷ xây dựng thì khẩu hiệu "xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa" của ông Hồ vẫn còn đang được nhắc lại. Vì thế không thể chối bỏ được rằng canh tân con người vẫn là yêu cầu ngày hôm nay của dân tộc Việt Nam. Trong số tới, xin mời các bạn đón xem phần hai: Canh Tân Con Người trong Hoàn Cảnh Việt Nam Hiện Tại.
Vũ Thạch
Đối với nhiều ngưòi, Singapore đồng nghĩa với Lý Quang Diệu, người sáng lập đảo quốc này và thực chất vẫn nắm quyền cai trị tối hậu tại đây. Trong lúc Singapore được hâm mộ vì chỉ trong 4 thập niên đã vươn lên hàng Tứ Hổ Châu Á, thì ông Lý Quang Diệu được đón rước như bậc thầy tại Bắc Kinh và Hà Nội, nhờ thành tích quản trị khắt khe mà xã hội vẫn giàu lên. Chúng ta thử tìm hiểu sâu hơn xem người Việt nên bắt đầu từ bài học nào và làm sao áp dụng. Singapore là một đảo quốc nằm ở tận cùng phía Nam của Mã Lai, diện tích vỏn vẹn 640 cây số vuông (tương đương với đảo Phú Quốc). Sau nhiều cuộc đụng độ chủng tộc đẫm máu, Singapore chính thức tách ra khỏi Mã Lai thành một nước độc lập vào năm 1965 với dân số khoảng 2 triệu người. Đa phần là người gốc Hoa. Ngay từ lúc thành lập, Singapore phải đối diện với nhiều mối nguy sinh tử. Anh Quốc rút dần lực lượng bảo vệ về nước. Mã Lai và Indonesia liên tục đe dọa nền tự chủ. Xung đột chủng tộc và tôn giáo lúc nào cũng có thể bộc phát. Nguy hiểm nhất là nỗ lực của đảng cộng sản tìm mọi cách tạo bất ổn để lật đổ chính quyền. Trong nhu cầu sống còn, chính phủ Lý Quang Diệu bắt buộc phải xiết chặt xã hội và nắm mọi cửa ngõ kinh tế. Một trong những nỗ lực chính yếu đầu tiên là loại trừ đảng Barisan Xã Hội Chủ Nghĩa và đảng Cộng Sản Mã Lai (đang nhận lệnh và tài trợ từ Bắc Kinh nhằm lật đổ chính phủ để thiết lập nền chuyên chính vô sản) ra khỏi mọi sinh hoạt xã hội. Nhưng quan trọng hơn cả là chính người dân Singapore biết rõ những mối đe dọa đang bao vây và đồng lòng ủng hộ các chính sách khắt khe của chính phủ. Cùng với thành công trong nỗ lực ổn định xã hội, nền kinh tế Singapore cũng tăng vọt. Tổng sản lượng nội địa (GDP) theo đầu người tăng từ 400 USD năm 1965 lên 22.330 USD năm 2003. Tác nhân chính trong nền kinh tế Singapore là loại công ty có gạch nối với chính quyền. Đây không hẳn là loại công ty quốc doanh nhưng lại luôn theo sự định hướng của nhà nước và được hưởng nhiều nâng đỡ từ phía chính phủ. Những đại công ty này có mức tăng trưởng tương đối chậm và mức độ chấp nhận rủi ro thấp. Thành phần các công ty tư nhân nhỏ và hoàn toàn độc lập không được chính phủ lưu tâm khuyến khích. Nói cách khác, nhà nước không ngăn cấm nhưng không khuyến khích các sinh hoạt kinh tế ngoài định hướng. Về mặt xã hội, giáo dục là một trong những ưu tiên hàng đầu. Quyết định dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ chính trong trường học thay vì tiếng Hoa cho thấy tính thực dụng của chính phủ. Hầu hết các dịch vụ liên quan đến đời sống người dân đều được chính phủ cung cấp gần như miễn phí. Tuy vậy, các sinh hoạt xã hội, đặc biệt là các sinh hoạt có hơi hướm chính trị đều bị kiểm soát chặt chẽ. Cho đến nay báo chí vẫn bị cấm không được bình phẩm hay đăng các tin không thuận lợi về chính phủ hay lãnh đạo. Mọi cuộc tụ họp chính trị không được tổ chức ngoài trời. Và hiện nay, quốc hội chỉ có 2 dân biểu được xem là đối lập. Về hệ thống cai trị, ông Lý Quang Diệu giữ ghế thủ tướng từ 1965, ông Ngô Tác Đống từ 1990 và con trai ông Lý Quang Diệu là Lý Hiển Long từ ngày 12/8/2004. Cả ba thuộc đảng Nhân Dân Hành Động (PAP) và hiện đều đang ngồi trong nội các. Nói chung, chính quyền Singapore sẽ tiếp tục chính sách bảo thủ trong các vấn đề xã hội, kinh tế và không chấp nhận sự cạnh tranh chính trị với đảng cầm quyền. Dân chúng đa phần không biết nhiều về các nhân vật lãnh đạo hay những tính toán, vận hành lớn đằng sau chính trường. Nhìn kỹ vào cách vận hành chính trị tại Singapore cho thấy thực chất chế độ tại đây là một triều đại phong kiến với một vị minh quân biết chăm lo cho dân cho nước, một người cha nghiêm khắc nhưng lo liệu mọi bề, kể cả quyết định tương lai cho con cái. Điều hiển nhiên mà mọi người phải công nhận là chính mô thức cai trị này đã đưa Singapore vượt qua giai đoạn hiểm nghèo ban đầu. Nó có khả năng tập trung sức lực quốc gia vào một số mục tiêu giới hạn và đạt tới những mục tiêu đó khá nhanh chóng. Ngoài ra, với những dịch vụ xã hội dồi dào từ chính phủ, khoảng cách giàu nghèo trong xã hội tương đối thấp. Với một guồng máy trong sạch tối thiểu, mô thức này đã chứng tỏ mức hiệu quả không thể chối cãi, ít ra là cho đến nay. Câu hỏi được đặt ra là mô thức này sẽ đưa Singapore đi bao xa nữa. Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan đều áp dụng công thức này trước Singapore, đều đã nhận ra các nhược điểm trầm trọng của nó, và đều phải cải tổ. Trước hết về kinh tế, có hẳn đây là công thức phát triển kinh tế tối hảo chăng? Hồng Kông là phần đất có quá trình lịch sử, đặc tính địa dư và dân số rất gần với Singapore. Tuy nhiên Hồng Kông mở rộng chính sách kinh tế tự do cho mọi thành phần. Kết quả là mặc dù động lượng phát triển đã giảm sút trong những năm gần đây, GDP của Hồng Kông hiện tại vẫn gấp đôi Singapore. Một nhược điểm nghiêm trọng khác là cách quyết định sau hậu trường và các móc ngoặc giữa nhà nước và các đại công ty đã sản sinh những ung thối tham nhũng tràn lan. Cả Nhật Bản và Nam Hàn đều phải truy tố và thay thế 4, 5 vị thủ tướng liên tiếp trong nhiều năm vì có thành tích tham nhũng. Hiện tượng này chưa hiện lên tại Singapore chỉ vì tại đây chưa có cánh đối lập, chưa có truyền thông độc lập và ảnh hưởng của Lý Quang Diệu vẫn còn. Nhược điểm khác là mục tiêu của chính quyền không còn là mục tiêu của dân chúng nữa trong tiến trình phát triển chung. Nói cách khác, khi giai đoạn khó khăn đã qua, lý do duy trì một chế độ hà khắc để vượt qua hiểm nguy không còn nữa mà chỉ để duy trì chế độ, thì người dân không có một cơ chế hợp pháp để thay thế chính phủ trong hòa bình và ổn định. Tóm lại, mặc dù mang đầy đủ dáng vẻ của một nền cộng hòa, ngay từ cốt lõi, Singapore vẫn chủ trương dựa vào một cá nhân, một minh quân thay vì dựa vào một cơ chế của một nước dân chủ. Vấn đề là (1) làm sao bảo đảm được người lãnh đạo là một minh quân; và (2) cho dù có được minh quân vẫn không đương nhiên có chính quyền tốt; nhưng (3) quan trọng nhất là nếu người lên cai trị là bạo chúa và/hoặc chính phủ của ông bất lực thì làm sao để thay thế họ. Trong lúc nhân loại đã thấy ra sự giới hạn của chế độ phong kiến và tiến lên chế độ dân chủ, thì Singapore và một vài nước châu Á khác vẫn muốn dừng lại ở chế độ cai trị bởi những nhà vua mặc áo cộng hòa và biết dùng máy vi tính.
Thế nào là môi sinh. Tại sao phải bảo vệ môi sinh và những ai có nhiệm vụ bảo vệ môi sinh Việt Nam
Hoàng Quân
Ngược dòng lịch sử nước ta từ bao nhiêu thế kỷ qua, người Việt chỉ quen thuộc với những câu như: bảo vệ giang sơn bờ cõi, bảo vệ Tổ Quốc, tranh đấu cho độc lập, tự do cho Dân Tộc v.v... Hai chữ "Môi sinh" hay "Môi trường" tuyệt nhiên không thấy xuất hiện trong tài liệu hay sách báo nước ta cách đây 30 năm. Vậy thì môi sinh là cái gì, môi sinh trở nên một vấn đề quan trọng từ hồi nào và tại sao? Câu trả lời đơn giản là: Môi sinh là môi trường chúng ta sinh sống; Môi sinh bị đe dọa từ khi khả năng ảnh hưởng của con người lên môi trường sống gia tăng vượt bực và sự thay đổi của môi sinh, do con người tạo ra, sẽ ảnh hưởng quan trọng ngược lại lên đời sống của chúng ta, bây giờ và trong tương lai lâu dài. Khoảng 50 năm về trước, ảnh hưởng đáng kể lên môi sinh chỉ có nạn đốt rừng làm rẫy của các dân tộc miền núi. Vấn đề này hệ trọng vì hoa mầu được trồng không đủ khả năng giữ lại đất mầu vì vậy nhiều vùng đồi núi dần dần không còn cây mọc nữa, nước mưa không có môi trường giữ lại đã tạo nên những trận lụt chấp nhoáng, dữ dội ... Trong thời chiến tranh, bom đạn cũng đã làm cho nhiều cánh rừng bị cháy với hậu quả tương tự... Rồi tới việc sử dụng thuốc khai quang đã khiến cho rừng càng bị phá hủy trầm trọng. Vào năm 1975, khi hòa bình trở lại, tưởng rằng thiên nhiên có điều kiện phục hồi, nhưng chính sách tập trung cải tạo các sĩ quan và cán bộ của chế độ cũ, đồng thời với việc đưa dân thành thị đi lập các vùng kinh tế mới đã huy động một khối dân khổng lồ vào việc phá rừng bừa bãi. Một trong những hậu quả rõ rệt tồn đọng tới nay là việc đào kinh thủy lợi một cách vô tổ chức tại đồng bằng Miền Nam Việt Nam. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới các trận lụt xẩy ra thường xuyên tại đồng bằng Sông Cửu Long những năm gần đây . Tóm lại, lý do đầu tiên của việc phá hủy môi sinh là chính sách của Nhà Nước không coi trọng việc bảo vệ môi sinh đồng thời lại có quá nhiều quyền hạn để huy động sức lao động của dân chúng trong các sinh hoạt nguy hại này. Lý do quan trọng thứ nhì đã đe dọa và phá hủy môi sinh VN là sự thay đổi của nếp sống dân ta, đặc biệt tại các đô thị. Trong vòng 20 năm qua, việc sử dụng dầu khí cho nhu cầu di chuyển đã tăng vọt, khói xe và bụi đường đã làm thay đổi toàn diện bộ mặt các thành phố. Bên cạnh đó là sự xuất hiện nhiều ngành sản xuất công nghệ trước đây không có. Tình trạng ô nhiễm môi trường thể hiện qua việc tháo đổ các chất phế thải công nghệ và thành phố ra các dòng sông, đồng ruộng và bầu không khí đang ảnh hưởng trầm trọng lên đời sống của nhân dân. Hiện nay chúng ta chưa có được con số thống kê về số tử vong do các chứng bệnh về viêm đường phổi tại các đô thị lớn và các bệnh do phế liệu hóa học tại các vùng dân cư bao quanh các cơ sở sản xuất lớn nhỏ, nhưng hình ảnh vô số người dân phải mang khẩu trang khi có việc phải di chuyển ngoài đường là một chỉ dấu báo động vì có biết bao nhiêu người khác không có khẩu trang, mà ngay như khẩu trang cũng chỉ ngăn được bụi mà thôi. Lý do quan trọng thứ ba đe dọa môi sinh VN là sự thay đổi trong các phương pháp canh tác trong nông , ngư nghiệp. Để gia tăng năng xuất, nông dân đã sử dụng rất nhiều chất bón hóa học và các hóa chất trừ sâu. Vì không nắm vững và không được hướng dẫn về kỹ thuật, nhiều khi lượng hoá chất sử dụng đã nhiều từ 5 tới 10 lần hơn lượng cần thiết, gây nên nạn ô nhiễm môi trường và ô nhiễm nguồn nước ngầm trầm trọng. Phong trào phá rừng để làm đồn điền trồng một số cây kỹ nghệ hoặc làm trại nuôi tôm, nhất là để nuôi tôm, đã biến nhiều diện tích rừng quý giá, và cả một số ruộng lúa, thành những vùng đất bỏ hoang không sản xuất hay canh tác được . Môi sinh là môi trường chúng ta sinh sống. Bảo vệ môi trường chúng ta đang sinh sống là chuyện đương nhiên. Tuy vậy những chuyện đương nhiên này đã không được thực hiện vì tình trạng thiếu hiểu biết, ích kỷ hay vô trách nhiệm của nhiều người. Bảo vệ môi sinh là nhiệm vụ của cả chính quyền lẫn người dân. Tuy nhiên trên tờ báo Canh Tân này, chúng tôi muốn đề cập nhiều hơn tới vai trò của người dân hơn là của chính quyền dù rằng đây chính là những người có trách nhiệm giải quyết hay chính là những thủ phạm đã gây nên những tàn phá môi sinh. Vấn đề trước mắt của dân ta hiện nay là phải ý thức được hiểm họa của vấn đề tàn phá hay ô nhiễm môi trường sống của chính chúng ta. Làm sao mọi người cùng quan tâm tới môi sinh, thường xuyên cố gắng theo dõi và hiểu biết tình trạng vi phạm hay các nỗ lực bảo vệ môi sinh đang diễn ra tại các nơi trên đất nước. Sự quan tâm này chính là tâm thức, phong cách của những ai muốn và dám làm chủ đất nước. Đây cũng là một thái độ cần có để xây dựng sinh hoạt dân chủ trong các lãnh vực khác hơn là môi sinh. Bên cạnh sự quan tâm, cũng cần phải có nỗ lực thi hành những công tác từ nhỏ tới lớn để bảo vệ môi sinh một cách cụ thể. Muốn thi hành công tác, dầu là nhỏ, cũng cần tìm cách tạo sự hợp tác giữa một số người và thông tin cho nhau để trao đổi sáng kiến, kinh nghiệm. Việc tìm hiểu và thông tin là những bước đầu để đối phó với một vấn nạn về môi sinh tại một địa phương. Đừng quên là tai họa môi sinh tại một địa phương nhiều khi phát xuất từ thượng nguồn dòng sông chẩy qua đó, từ một dẫy núi ở xa hay từ nhà máy tại một thành phố kế cận. Để đối phó với nguy cơ về môi sinh, sẽ cần sự hợp tác của người dân tại các địa phương khác nhau, nhiều khi vượt ra ngoài cả biên giới quốc gia. Riêng đối với Việt Nam, chúng ta sẽ cố gắng để làm sao, trong việc bảo vệ môi sinh Việt Nam, chúng ta sẽ có sự chung sức của đồng bào cả ở trong và ngoài nước.
Bích Thuyên
Xã hội chúng ta đầy rẫy những con người sợ hãi!
Cha mẹ lo sợ cho tương lai của đám con nheo nhóc. Sinh viên sắp ra trường lo âu không tìm được việc làm. Người tìm được việc lo sợ có kẻ mua đứt vị trí chỗ làm của mình. Giới tư doanh lo âu hàng lậu Trung Quốc vượt biên giới ào ào như nước mùa lũ. Kẻ lao động nước ngoài canh cánh viễn ảnh bị đuổi về nước trước hạn hợp đồng. Các cô dâu Đài Loan lo sợ những ông chồng già nhưng ngầm mắc bệnh cuồng dâm. Tiểu thương chợ Đồng Xuân sợ sưu cao thuế nặng. Người buôn thúng bán bưng sợ nặng thúng tiền vơi. Bậc đại gia sợ hầu bao không đủ sống đời trưởng giả. Nông dân sợ giá gạo xuống, phân lên. Kẻ bỏ ruộng vườn lo tôm xuất khẩu giá thấp, thuế cao. Đồng bào vùng cao sợ mất đất mà còn bị đánh hôi. Những người có lòng với đất nước lo sợ tiếng nói lẽ loi của mình lạc lõng trong thời đại kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đám quần chúng không chức, không quyền thì sợ kẻ có quyền có chức. Kẻ có chức, có quyền thì sợ tước quyền, mất chức. Càng sợ mất quyền mất chức lại càng bóp chặt, bóc lột đám người không chức, không quyền. Bỏ ra ngoài những sợ hãi ích kỹ của kẻ quyền thế, những nỗi sợ hãi còn lại này chẳng có gì để xấu hổ cả. Bản năng con người là phải biết sợ. Có biết sợ thì mới sống. Đất nước chúng ta là như thế đấy. Tập hợp của những con người sinh động biến sợ thành một nghệ thuật sống. Tuy thế trong bất cứ nỗi sợ hãi nào cũng lóe lên một niềm hy vọng. Chỉ khi tuyệt vọng với cuộc sống, chai lì với cuộc đời thì người ta mới vất đi nỗi sợ hãi, chia tay với niềm hy vọng. Còn khi còn chút hy vọng vào tia sáng cuối đường hầm thì người ta sẽ hoặc rụt rè hoặc liều mạng vượt qua những nỗi sợ hãi để tìm đến ánh sáng cuối đường. Trong sự lo âu nhìn ra ngoài ngưỡng cửa trường lớp, người sinh viên vẫn hy vọng rằng tương lai của mình nằm ở ngoài đấy. Trong nỗi sợ bấp bênh của cuộc sống, bậc cha mẹ nào cũng mang niềm hy vọng rằng đời con, đời cháu mình sẽ khá hơn đời mình. Thấm thía nỗi nhục nhã mang thân lao động xứ người, người lao công hy vọng rằng ngày nào đó họ sẽ làm việc ngay tại xứ sở với gia đình thân yêu bên cạnh. Tựa cửa nhìn về biển Đông, các cô dâu Đài Loan ước mơ ngày trở về với gia đình sống đời hạnh phúc, bình dị nơi quê nhà. Trong nỗi lẽ loi đầy bức xúc, những người có lòng với đất nước vẫn tin rằng tiếng nói của họ sẽ đến với mọi người. Trong những niềm hy vọng hoặc bình dị hoặc cao cả đó, cũng xen lẫn những hy vọng hèn mọn của kẻ bám víu chức quyền. Trong sợ hãi luôn toát ra niềm hy vọng. Nhưng sợ hãi lo âu không đủ sức mạnh để biến hy vọng thành hiện thực. Ngược lại hy vọng phải là động lực để thoát ra, vượt qua nỗi sợ hãi của từng cá nhân. Chúng ta phải tin vào quy luật của lịch sử bất biến: niềm hy vọng cao cả, đứng đắn của người dân sẽ đánh bạt những hy vọng hèn mọn của kẻ nắm quyền vào sọt rác của lịch sử. Hãy vượt qua những sợ hãi vì chiến thắng chính nỗi sợ hãi của mình là chiến thắng vẽ vang nhất. Hãy khởi đầu bằng những hy vọng nho nhỏ như hy vọng của những bạn hàng chợ Đồng Xuân mong được yên ổn làm ăn, không phải bị sưu cao thuế nặng và đã cùng nhau bãi thị để phản đối việc đánh thuế cao của chủ chợ. Hãy như người dân Hải Phòng xuống đường để phản đối việc đổ rác bừa bải gây tác hại đến môi trường sinh sống của họ. Niềm kỳ vọng vào một môi trường sống sạch sẽ khoẻ mạnh đã khiến cho người dân Tràng Cát, Thượng Lý và Gia Minh không còn sợ hãi những nỗi sợ vu vơ nữa. Lịch sử thăng trầm của đất nước, dân tộc rồi cũng sẽ sang trang. Sức mạnh và trí tuệ của dân tộc rồi cũng sẽ thay thế sự áp đặt u mê. Màu xanh của lá là màu của hy vọng. Màu xanh của trời là màu của hy vọng. Ngày nào đất trời còn cây xanh lá, còn trời xanh mây là cuộc đời vẫn còn hy vọng. Còn hy vọng thì sợ hãi sẽ được vượt qua, tương lai của mỗi con người sẽ tươi sáng. Lúc đó đất nước ta sẽ không còn là một tập hợp của những con người sinh động biến sợ thành một nghệ thuật sống. Đó sẽ là một tập hợp của những con người can đảm luôn vươn mình trước mọi phong ba bão táp.
Nguyễn Đại Việt
Dân tộc ta là một dân tộc phi thường. Trong lịch sử thế giới có dân tộc nào sau một nghìn năm đô hộ vẫn không bị đồng hóa mà còn đánh đuổi được ngoại xâm? Có dân tộc nào ba lần đánh bại đế quốc Mông Cổ hùng mạnh? Nước ta là thuộc địa đầu tiên chiến thắng thực dân Pháp. Siêu cường Hoa Kỳ lần đầu tiên thua trận ở Việt Nam. Học sinh nước ta thường xuyên đoạt những giải thi toán, lý hóa quốc tế. Những ví dụ trên cho thấy dân tộc ta lẽ ra không thua bất cứ một dân tộc tiến bộ nào trên thế giới. Thế mà đến nay nước ta vẫn còn là nước nghèo nhược tiểu. Báo cáo của Liên Hiệp Quốc năm nay về chỉ số phát triển con người xếp Việt Nam đứng hạng 112 trong số 177 nước, thua xa Thái Lan hạng 76, Mã Lai 59, Singapore 25. 30 năm trước đây trình độ phát triển của các nước này xấp xỉ ngang hàng với miền Nam Việt Nam. Rõ ràng là sau gần 30 năm hòa bình, công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của nước ta đã không đạt. Ta có tiến so với quá khứ của chính ta nhờ nương theo đà tiến hóa của nhân loại nhưng đã tụt hậu so với các nước lân bang khu vực. Tại sao? Kiều bào người Việt nước ngoài thường hay lên án Đảng và Nhà Nước với chế độ độc tài chuyên chế là nguyên nhân của tất cả những chậm lụt tụt hậu của nước ta. Đảng và nhà nước thì lại quy tội cho các thế lực thù địch phản động đã gây khó khăn, cản trở cho sự nghiệp tiến nhanh tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa. Dân ta thì đổ lỗi cho tham nhũng và lạm quyền của cán bộ từ trên xuống dưới làm tan hoang cả nước. Cứ như thế và nước ta tiếp tục loay hoay trong vũng lầy tụt hậu. Theo lô gíc thông thường, một nước giàu mạnh hay nghèo yếu là do ở lãnh đạo giỏi hay kém. Nước ta vẫn nằm trong danh sách những nước nghèo của thế giới thì không thể nói rằng lãnh đạo ta tài giỏi. Rất tiếc hiện nay dân ta không có quyền chọn lựa lãnh đạo nào khác, nên phải nhắm mắt để cho Đảng dẫn dắt với tốc độ của loài rùa, bằng khả năng và tư duy của loài vượn. Nhìn lại, dân tộc ta phi thường. Nhưng đấy là trong chiến tranh. Trong xây dựng, dân ta chỉ còn phi thường trên mặt báo, từ cái loa đầu đường. Như nhà văn nữ Dương Thu Hương (DTH) đã viết: "một dân tộc dũng cảm biết bao trong chiến tranh và hèn mọn biết bao trong cuộc sống thời bình...". Nhiều thói quen và tư duy tiêu cực lạc hậu đã và đang kềm hãm những bước nhẩy vọt mà đáng lẽ dân ta có dư tiềm năng thực hiện.Một tư duy tiêu cực cơ bản còn đè nặng dân ta là mặc cảm nhược tiểu đã đưa đến lối hành xử của những con người thiếu tự chủ. Từ đấy mà nhân dân và lãnh đạo ta thường hay vọng ngoại, thích dựa dẫm vào ngoại bang. Điển hình là trước đây lãnh đạo miền Nam thì dựa vào Mỹ, còn Đảng và nhà nước hết dựa vào các đàn anh Liên Xô, Trung Quốc vĩ đại trong thời chiến, rồi ngả hoàn toàn theo Liên Xô khi mới hết chiến tranh, khi Liên Xô sụp thì trở lại quy thuận với Trung Quốc với những món quà dâng đất nhượng biển và nay lại ve vãn với Hoa Kỳ. Mặc cảm nhược tiểu cũng làm cho nhân dân ta dễ an phận làm người dân thấp cổ bé miệng, xem cán bộ nhà nước như là "phụ mẫu chi dân", coi cơ chế "xin - cho" là chuyện bình thường, đương nhiên trong cuộc sống. Vì mặc cảm nhược tiểu mà dân ta không thể sống như những chủ nhân thực sự của đất nước khiến khẩu hiệu "nhân dân làm chủ tập thể, nhà nước quản lý" vẫn chỉ là những bánh vẽ để Ðảng và nhà nước nhân danh đó mà tự tung tự tác, vừa đá bóng vừa thổi còi. Và cứ như thế "phần trôi nổi của bề mặt dòng sông cuộc sống vẫn là tiếng độc thoại oang oang không mệt mỏi không hổ thẹn của đảng cầm quyền" (DTH)
Muốn canh tân đất nước, nhân dân ta trước tiên cần canh tân lại tư duy của mình. Cần phải thấy rõ là dân tộc có đầy đủ khả năng đưa đất nước đi lên ngang tầm với các nước văn minh trên thế giới. Phải tin rằng ta có thể và nhất định phải đóng vai kẻ chủ động trên bàn cờ thế giới thay vì làm thân phận những con cờ thí. Ðể xây dựng tinh thần này, đầu tiên ta cần nhập tâm ý niệm nhân dân là chủ của đất nước chứ không phải một tập đoàn, phe đảng thiểu số. Khi đã là chủ thì không thể xin xỏ những gì vốn thuộc của mình. Dân đã là chủ thì Đảng và nhà nước không thể đóng vai phụ mẫu, ban phát ân huệ mà phải là công bộc đúng nghĩa phục vụ nhân dân. Là người chủ, dân ta có quyền yêu cầu các cán bộ nhà nước phục vụ nhu cầu của nhân dân vì chính tiền thuế của ta đã đóng để trả lương nuôi nhà nước. Vì là chủ ta có quyền đòi hỏi cơ quan nhà nước phải minh bạch công khai mọi thủ tục, luật lệ hành chánh để nhân dân có thể kiểm tra tiến trình phục vụ của nhà nưóc đối với nhu cầu của người dân. Trước mọi thủ tục rườm rà tạo kẽ hở cho tham nhũng, người chủ của đất nước có trách nhiệm và có quyền lên tiếng đòi hỏi nhà nước cải thiện thay vì thụ động than oán chờ nhà nước giác ngộ tự sửa. Làm chủ vận mệnh của chính mình và góp phần làm chủ vận mệnh của đất nước là bước đầu tiên mà nhân dân ta phải thực hiện để xã hội tốt hơn. Ðó cũng là bước đầu tiên để xây dựng sức mạnh tinh thần của dân tộc làm nền tảng cho tiến trình canh tân con người và canh tân đất nước lâu dài.
Trần Châu Khoa
Hồi nhỏ, nghe kể rằng phù thủy cao tay có thể vẽ bùa, phù phép biến giấy thành âm binh để sai khiến làm những chuyện kinh thiên động địa. Đôi khi, những tay phù thủy pháp thuật không thâm hậu có thể bị chính những âm binh của mình quay lại bóp cổ chết tươi. Lớn lên, những chuyện phù thủy, âm binh đã mờ nhạt dần với dĩ vãng. Chợt mới đây, đọc bức thư của Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh đề ngày 17/6/2004 gửi lãnh đạo Đảng để tố cáo và kiến nghị giải quyết vụ án Chính trị cực kỳ nghiêm trọng ở Tổng cục 2 (vụ T4), hình ảnh âm binh phù thủy lại hiện lên từ miền ký ức xa xôi. Ở mọi thời đại, thời chiến cũng như thời bình, nước nào cũng có nhu cầu an ninh tình báo để nắm bắt tình hình và đề xuất những kế hoạch quy mô hầu có thể ngăn ngừa những hiểm họa cho quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện tại, chiến tranh ít khi có súng nổ, đạn bay mà thường được tiến hành bằng các hình thức tinh vi, hiểm độc hơn như gián điệp kinh tế, âm mưu gây mất ổn định chính trị... Vì thế, quốc gia nào cũng phải cảnh giác, đề phòng và ngăn chặn bằng cách thiết lập hệ thống an ninh tình báo quốc gia có tầm hoạt động không những trong nước mà còn bên ngoài biên giới. Kinh nghiệm các nước cho thấy tiện lợi nhất là cải biến một cơ quan an ninh sẵn có của quân đội hay công an thành cơ cấu an ninh tình báo chiến lược quốc gia. Nước ta cũng không ra khỏi những quy luật đó và vì thế việc Đảng và nhà nước đã nâng "cục 2" của quân đội lên thành "tổng cục 2" với quyền hạn và lãnh vực hoạt nộng được nâng cấp, mở rộng cũng là một quy trình... hợp lý. Chính vì tính cách hợp lý này mà lãnh đạo Đảng đã đưa ra "Pháp lệnh tình báo và nghị định 96/CP" với nhận định "Lực lượng tình báo Việt nam là một trong những lực lượng trọng yếu, tin cậy của Đảng và Nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam..." (Điều 2, chương 1 của pháp lệnh). Trở lại hình ảnh "phù thủy, âm binh" thì ta có thể hình dung những nhân viên của tổng cục 2 hoạt động bí mật, gián điệp có thể ví như âm binh, thần tướng vì có nhiều quyền năng, phương tiện, xuất quỷ nhập thần, ở khắp mọi nơi, mọi chốn, kể cả trong các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước. Những người sản sinh ra nó là các tay phù thủy chóp bu của Đảng. Pháp lệnh An ninh Tình báo và Nghị định 96/CP là hai lá bùa phù phép. Trong việc tổ chức hệ thống an ninh, tình báo, yếu tố con người là cơ bản. Khi đề cập đến yếu tố con người thì phải nói đến tham vọng, đến quyền và lợi. Phù thủy có tham vọng và quyền lợi của phù thủy. Âm binh có tham vọng và quyền lợi của âm binh. Phù thủy thì tìm cách nêu lên thành tích xuất quỷ nhập thần của mình, đồng thời sai khiến âm binh của mình bóp cổ các phù thủy khác qua các vụ mà theo Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, ông Trần Đại Sơn và "Một số cán bộ lão thành Cách mạng Trung ương và Hà Nội", đã được Tổng cục 2 dựng lên như vụ "Xiêm Riệp" (1983), vụ "Sáu Sứ" (1991), vụ "T4" (1997 đến nay). Vụ nổi cộm nhất có liên quan đến hầu hết bộ phận lãnh đạo tối cao của Đảng và Nhà nước là vụ T4. Theo báo cáo của Tổng cục 2 thì họ đã cài được một nhân sự mang bí danh T4 vào CIA. T4 thường xuyên báo cáo cho Bộ Chính trị và Trung ương Đảng những tin tức của CIA. Theo những báo cáo này thì "CIA đã tiếp cận được, đã cho người liên hệ, đã chỉ đạo các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Lê Khả Phiêu, Mai Chí Thọ, Trương Tấn Sang, Võ Trần Chí, Bùi Thiện Ngộ, Trương Vĩnh Trọng, Phạm Gia Khiêm, Võ Thị Thắng, Vũ Quốc Hùng, Nguyễn Khánh Toàn, Phan Diễn, Lê Văn Dũng, Phan Trung Kiên, Võ Viết Thanh, Đoàn Mạnh Giao...". Nếu những "tin tức của CIA" trên đây là đúng thì những người đang là Đảng và Nhà nước đã theo đế quốc Mỹ tư bản hết rồi. Còn gì là Đảng CSVN? Trong những người bị tố cáo, chỉ có đại tướng Võ Nguyên Giáp và thượng tướng Nguyễn Nam Khánh là đã lên tiếng. Còn ông Tổng Bí Thư đương nhiệm Nông Đức Mạnh, ông Thủ tướng Phan Văn Khải và những ông khác đều câm như ngậm hột thị. Tại sao? Chỉ biết có một hiện tượng cho thấy các ông không muốn lá thư tố cáo của tướng Nguyễn Nam Khánh lọt đến tay nhân dân. Thế là ông Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Bộ Công an, đã huy động công an đang đêm ập tới tư gia của ông Lê Hồng Hà, một lão thành cách mạng từng làm Bộ trưởng Công an, ở 62 Ngô Quyền, suốt từ 21 giờ 30 phút ngày 10/7 đến 1 giờ 30 phút ngày 11/7 với lý do "có tin ông Hồng Hà đang có ở trong nhà 1 bản tài liệu vô cùng quan trọng đề ngày 17/6/2004 mà nếu để lọt ra ngoài dân chúng thì có thể gây tác hại vô cùng lớn lao cho Đảng ta...". Cũng có hiện tượng, không biết vì lý do gì mà Bộ Chính trị muốn ém vụ này, không truy cứu những người lãnh đạo Tổng cục 2. Ý đồ này đã được các nhà cách mạng lão thành viết trong thư gửi lãnh đạo tối cao như sau: "Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đều không có quyền ngăn cản việc truy tố trước pháp luật bọn tội phạm trong Tổng cục II, không có quyền vi phạm trắng trợn Hiến pháp và Pháp luật của Nhà nước ta, ngược lại còn phải gương mẫu chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và Pháp luật của Nhà nước hơn ai hết!". Trong vụ này, có hai phù thủy đang bị nhắm mũi dùi là hai người đứng đầu Tổng cục 2 hiện nay là Trung tướng Đặng Vũ Chính và Thiếu tướng Nguyễn Chí Vinh. Nhưng theo tinh thần những lá thư tố cáo thì hai nhân vật này tuy là tướng nhưng cũng thuộc loại tướng âm binh. Tay phù thủy "giáo chủ" chính là Lê Đức Anh. Âm binh của tay phù thủy này hiện đã trở thành "cương thi", "ma cà rồng" và đã len lỏi vào mọi cơ chế của Đảng và Nhà nước. Chúng có cơ sở làm ăn lớn khắp nơi, dùng tiền bạc, chứng cứ giả khống chế toàn bộ guồng máy Đảng và Nhà nước. Không biết chừng phù thủy Lê Đức Anh, Đặng Vũ Chính, Nguyễn Chí Vinh cũng không còn sai khiến được lũ âm binh này nữa. Đến một lúc nào đó để giành quyền thống trị, chúng sẽ quay lại bóp cổ những phù thủy đang sai khiến chúng. Thế giới đang tiến bộ mà nước ta lại còn cảnh phù thủy, âm binh. Thực là tình trạng thoái hóa tột độ. Đó chính là vì cơ chế ta kém cõi lạc hậu. Nhà nước, Đảng, quân đội, công an là một bè lũ với nhau thì lấy ai kiểm soát ai? Cần phải tách bạch cơ chế điều hành đất nước ra khỏi cơ chế làm luật, cơ chế thi hành luật. Cạnh đó báo chí phải được tự do thông tin đầy đủ để vạch trần những tình trạng tiêu cực, thoái hóa ở mọi tầng lớp. Có cơ chế tách bạch độc lập với nhau dưới sự dòm chừng của giới báo chí thì tình cảnh âm binh, phù thủy khó mà tồn tại.