05 tháng 8, 2006

Phan Bội Châu (CT27)


Giáo sư Chương Thâu

Phan Bội Châu là nhà yêu nước và là một tác giả lớn đầu thế kỷ 20 của Việt Nam. Các tác phẩm của ông có ảnh hưởng lớn tới nhiều thế hệ người Việt Nam yêu nước.

Phan Bội Châu tên cũ là Phan Văn San, hiệu Hải Thụ, sau lấy hiệu là Sào Nam và nhiều bút danh khác. Ông sinh ngày 26-12-1867, quê ở làng Đan Nhiễm, nay là xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, Nghệ An. Nhiều người dân bây giờ vẫn thờ ơ lướt qua khu di tích Kim Liên của cụ Hồ để lặng lẽ tìm đến thắp hương cho bàn thờ cụ Phan gần đó.

Lúc nhỏ, Phan Bội Châu nổi tiếng thông minh. Sáu tuổi đã thuộc hết Tam tự kinh, bẩy tuổi đã hiểu kinh truyện, tám tuổi đã làm thông thạo loại văn cử tử. Mười ba tuổi, đi thi ở huyện đỗ đầu. Mười sáu tuổi, đỗ đầu xứ, nên cũng gọi là Đầu xứ San.

Năm lên chín tuổi, ông đã có ý thức hưởng ứng phong trào của Trần Tấn, Đặng Như Mai, chống thực dân. Mười bảy tuổi, được tin phong trào khởi nghĩa nổi lên ở Bắc kỳ, ông đã thảo bài hịch Bình Tây thu Bắc. Năm 19 tuổi hưởng ứng chiếu Cần Vương của Hàm Nghi, ông tổ chức một đội thí sinh quân gồm 60 người lên đường ứng nghĩa, nhưng chưa kịp hành động thì địch đã về càn quét ở làng. Công việc không thành nhưng chí hướng cứu nước của ông đã rõ. Ông đã ném danh lợi phù phiếm vào trời đất mông mênh để chọn cho mình một cuộc sống phi thường.

Tiếp đó, mười năm Phan Bội Châu làm ông đồ dạy học. Năm 1900, ông đỗ thủ khoa trường Nghệ và chính thức bước vào cuộc đời hoạt động cách mạng. Cụ Phan lập ra Hội Duy Tân (1904), chọn Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm minh chủ, chủ trương khôi phục nền độc lập. Đầu năm 1905, ông sang Nhật rồi quay về dấy lên một phong trào Đông Du vào năm 1905-1908. Ông viết nhiều tác phẩm tuyên truyền cách mạng như Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư, v.v...

Là lãnh đạo phong trào Đông Du, Phan Bội Châu đã tổ chức Công Hiếu Hội, tập họp 200 lưu học sinh Việt Nam sang Nhật học tập chính trị, khoa học, quân sự. Những năm cuối cùng trên đất Nhật, ông lập ra các hội có tính chất “đoàn kết quốc tế”, như hội Điền- Quế- Việt Liên Minh (liên minh giữa những người Vân Nam, Quảng Tây với Việt Nam) và hội Đông Á Đồng Minh (gồm một số người Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên, Ấn Độ, v.v...) để giúp nhau chống lại bọn đế quốc.

Khoảng tháng 3-1909, tổ chức Đông Du bị giải tán và Phan bị chính phủ Nhật trục xuất. Trở về ẩn náu tạm thời trên đất Trung Quốc ít lâu, sau đó Ông sang Thái Lan hoạt động. Hơn một năm sau, khi cách mạng Tân Hợi (1911) thành công, Phan Bội Châu lại trở về Trung Quốc và thành lập Việt Nam Quang Phục Hội mà tôn chỉ duy nhất là đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước “Cộng Hòa Dân Quốc Việt Nam”.

Sau những hoạt động yêu nước, Cụ Phan bị thực dân Pháp nhờ bọn quân phiệt Trung Quốc bắt giam ngày 24-12-1913.

Năm 1917, khi Phan Bội Châu ra tù, cụ Phan tuy phải sống bằng nghề viết báo ở Hàng Châu, làm biên tập viên của tờ Bình Sự tạp chí, nhưng cụ Phan vẫn không quên lợi dụng báo chí để tuyên truyền chống Pháp và tiếp tục tìm đường cứu nước.

Giữa năm 1924, Phan Bội Châu đã cải tổ Việt Nam Quang Phục Hội thành Việt Nam quốc dân đảng. Tháng 12-1924, sau khi tiếp xúc với Nguyễn Ái Quốc, cụ Phan dự định sang năm sau (1925) sẽ cải tổ lại Việt Nam quốc dân đảng theo hướng tiến bộ nhất. Nhưng ngày 30-6-1925, trên đường từ Hàng Châu về Quảng Châu để nhóm họp anh em, cụ Phan đã bị Hồ Chí Minh bán đứng và chỉ điểm cho thực dân Pháp. Khi vừa đến ga bắc Thượng Hải thì bị thực dân Pháp bắt cóc đem về nước. Chúng âm mưu bí mật thủ tiêu cụ Phan nhưng việc bị bại lộ, nên phải đưa ra xử ở Tòa đề hình Hà Nội. Tính mạng “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng” bị uy hiếp, gây ra một phong trào bãi khóa, bãi công, bãi thị rầm rộ khắp cả nước. Trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ đó, thực dân Pháp bối rối, phải tuyên bố tha bổng nhưng bắt cụ Phan phải về sống ở Huế mà không được đi bất cứ đâu.

Từ năm 1926 trở đi, Phan Bội Châu là người tù bị giam lỏng ở Bến Ngự. Đến đây, cuộc đời hoạt động cách mạng nguyện hiến dâng tất cả cho Tổ quốc của cụ phải bỏ dở. Mặc dù “Ông già Bến Ngự” phải sống cuộc đời “cá chậu chim lồng” nhưng cụ vẫn làm thơ văn để nói nỗi khổ nhục của người dân mất nước, trách nhiệm của người dân đối với nước... Đó là các tác phẩm: Nam quốc dân tu tri, Nữ quốc dân tu tri, Bài thuốc chữa bệnh dân nghèo, Cao đẳng quốc dân, Luân lý vấn đáp, Lời hỏi thanh niên... Phan Bội Châu niên biểu, Lịch sử Việt Nam diễn ca. Đó cũng là các công trình biên khảo hết sức đồ sộ như Khổng học đăng, Phật học đăng, Xã hội chủ nghĩa, Chu dịch, Nhân sinh triết học, cùng với trên 800 bài thơ nôm các loại, mấy chục bài phú, văn tế, tạp văn khác.

Ông là Nhà yêu nước thật sự nồng nàn. Ông là Bậc thầy của Hồ Chí Minh cả về phẩm chất đạo đức, trình độ học vấn lẫn ý chí đấu tranh. Thế mà vì nghĩ Ông là con nhà địa chủ, năm 1955 họ đem ra đấu tố Ông nhưng vì Ông đã chết nên họ gỡ bức ảnh của Ông trên bàn thờ xuống và bắt treo ở chuồng trâu cho tận đến khi sửa sai. Ôi Cộng sản!

Chúc Tết Thanh Niên

Phan Bội Châu

Dậy ! Dậy ! Dậy !
Bên án một tiếng gà vừa gáy
Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng
Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng?
Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng
Hai mươi lẻ đã từng bao chua với xót
Trời đất may còn thân sống sót
Tháng ngày khuây khỏa lũ đầu xanh
Thưa các cô, các cậu lại các anh
Trời đã mới, người càng nên đổi mới
Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội
Ghé tay vào xốc vác cựu giang san
Ði cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan
Dây đoàn thể quyết phen thành nghiệp lại
Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi
Cởi lốt xưa mà tu dưỡng lấy tinh thần
Chẳng thèm chơi, chẳng thèm mặc, chẳng thèm ăn
Ðúc gan sắt để dời non lấp bể
Xối máu nóng để rửa vết dơ nô lệ
Mới thế này mới là mới hỡi chư quân
Chữ rằng: nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân.


Mẹ Việt Nam & Những Bà Mẹ Việt Nam (CT27)


T.H.

Trời quang. Mây tạnh. Sấm chớp dọa nạt nhẹ nhàng rồi cũng yên, cũng lặng. Chiếc vồng ngũ sắc nở căng phồng sau ngọn mưa Ngâu, che khuất đâu đó nhịp cầu Ô Thước tủi buồn. Ráng chiều thắm đậm. Màu trời óng ánh. Mùa Vu Lan mở hội.

Đã ngót hai ngàn năm xa cách. Mẹ Âu Cơ khoan thai vén mây truyền thuyết, đủng đỉnh bước về trần gian, tìm thăm đàn con vẫn có tiếng là văn hiến, khi nhân loại bừng bừng khí thế chực lao vào thiên niên kỷ mới.

Trăm con một mẹ chia hai
Đường lên chủ nghĩa có dài ngàn năm?
[1]

Đàn con của mẹ Âu Cơ tan hợp, hợp tan bao phen, nghe nói nay đã quy về một mối. Mẹ được báo cáo là nửa bọc con trên rừng đã xuống tận đồng bằng để thực hiện khẩu hiệu thống nhất và bình đẳng.

Nhưng, trước đó, phải ra sức giành độc lập.

*

Nghe cũng đúng. Phải giành độc lập. Mẹ Trưng từng khai sáng con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Mẹ Triệu cũng từng cố giành quyền tự chủ đất nước. Thành công hay thất bại, không chỉ là cái tước hiệu Nữ Vương. Thành công hay thất bại, không chỉ là cái ngai vàng. Thành công hay thất bại, phần lớn được định bởi sức sống của cả nước sau đó....

Thời nào cũng vậy. Nay cũng vậy. Phải giành độc lập. Có kẻ hô to: Không có gì quý hơn độc lập.... Át cả lời tạ từ trong những cuộc chia ly màu đỏ. Át cả giọng mẹ tìm con trên đường đất nâu sơ tán.

Nhiều bà mẹ gánh gồng chạy giặc bị thất lạc đàn con, luống cuống mất hồn tìm kiếm cho đến lúc không thể lết được nữa. Đâu đó tiếng thất thanh lạc giọng của những đứa con, vang vọng từng giây:

Mẹ tôi em có gặp đâu không?
Những xác già nua ngập cánh đồng
Tôi cũng có thằng em bé dại
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông?
[2]

Phải giành lấy mùa Xuân độc lập.

Bằng mọi cách. Kể cả cách rao bán những thứ chưa có trong tay. Những thứ đang cố giành. Cho chủ khác.

Bằng mọi giá. Kể cả xương trắng máu đào. Ngập sông. Đầy đồng. Rẻ mạt.

Mùa Xuân. Lòng Xuân. Gỗ có mắt nhưng thấy đâu? Nấm có tai nhưng nghe đâu?

Nắng chẳng hồng tươi, núi chẳng xanh
Mây chì ngừng đứng lặng bên thành.
Nhạc trời chim cũng thôi lên tiếng,
Có những lòng xuân khóc chiến chinh.
[3]

Đã có kẻ độc quyền lãnh đạo. Mẹ Việt Nam không trả giá được. Đã có kẻ xưng độc quyền quản lý. Những bà mẹ Việt Nam, tất nhiên, không được trả giá.

Mà cũng không thể. Bởi đó không chỉ là máu xương chính mình. Nó gồm cả máu xương con mình.

Độc lập được đánh đổi bằng mớ huy chương Thanh Đề như thế đấy.

Độc lập trở thành món quà chuyền tay từ thực dân sang bầu bạn quốc tế, cũng như thế đấy.

*

Một nửa bọc con của Mẹ, với huy chương Thanh Đề đỏ ngực, che kín cả những mảnh áo rách lòi xương, bắt đầu được truy lãnh giải thưởng Đảo Huyền.

Khởi đi từ những nhà thơ tình, người ta nghe những giai điệu mới. Về những vị trí mới. Về các tương quan mới. Về mớ định nghĩa mới.

Trong đó có cả chữ Trung, chữ Hiếu.

Hiếu là hạnh đứng sau trăm hạnh. Kính dâng các bậc sinh thành:

Anh em ơi! Quyết chung lưng
Đấu tranh tiêu diệt tàn hung tử thù
Địa hào, đối lập ra tro
Lừng chừng phản động đến giờ tan xương
Thắp đuốc cho sáng khắp đường
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay
Lôi cổ bọn nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống, đọa đày chết thôi...
[4]

Hiếu là đức cội nguồn muôn đức. Kính dâng những bà mẹ Việt Nam:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
thờ Mao Chủ Tịch,
thờ Xít-ta-lin bất diệt.
[5]

Cải cách ruộng đất.

Cải tạo xã hội.

Cải biến lòng người.

Những đứa con thôi nhớ về những bà mẹ quê vất vả trăm chiều, nuôi một đàn con chắt chiu [6]. Những đứa con thôi chờ nụ cười son, và đồng quà ngon. [6]

Đức Mục Kiền Liên gặp mẹ ngay trên đất Bắc, nhiều vô kể, tại những đình làng lập lòe ánh đuốc ma trơi chủ nghĩa. Những Thanh Đề trở thành “bọn tàn hung tử thù”, được chôn sống để nhìn lưỡi cày lướt ngọt qua cổ. Những Thanh Đề bị dán nhãn “địa chủ - đối lập”, được ném đá cho vỡ vụn. Những Thanh Đề thuộc diện “lừng chừng - phản động”, được đánh hèo cho bẹp dí.... Còn nhiều nữa. Đã nói là vô kể.

Những bà mẹ còn lại, ít huy chương hào nhoáng hơn, được ban phát cho sự cao cả kéo dài:

Không phải chết, sống mỏi mòn mới khiếp
Sống niêu cơm manh áo cũng đọa đày
Sống yên lành, song cũng khó yên thay
Sống lao tù, sống bệnh hoạn lắt lay
Sống đau nhức cả thần kinh bắp thịt
Năm tháng kéo ùn ùn lên bất tuyệt…
[7]

Ôi! Oan khiên nghiệp chướng nào phủ lấp tình mẫu tử?

Ôi! Đảo huyền. Đám con nào hành hình treo ngược mẹ, ngay trong mùa Kiết Hạ Vu Lan?

*

Có thời, một nửa thế giới xưng độc lập với một nửa còn lại. Một nửa Việt Nam cũng nương trào lưu, nướng dân đen, xưng độc lập, xong, đòi giải phóng nửa kia, gọi là để tất thành bức tranh thế giới đại đồng dở dang màu đỏ. Bằng đại bác đêm đêm vọng về thành phố [8]. Bằng những con mắt bình minh tắt trên giòng sông, những con mắt mùa Đông tắt trong hoàng hôn. [8]

Đao kiếm không có mắt. Người cầm mã tấu cũng y vậy. Tấm lòng, nếu có, cũng để nước cuốn trôi [8]. Đừng nói chuyện anh em một bọc, khi bạo lực đại bác đã động phòng hoa chúc với mắt nhắm mù lòa. Chiến trường “B” mở cửa. Những bà mẹ Việt Nam, cho dù áo rách sờn vai, cơm ăn bát vơi bát đầy [6], và cho dù chưa kịp hoàn hồn hết sợ hình ảnh những ngôi đình làng bập bùng ánh đuốc, lại phải lật đật bẻ hột gạo làm đôi, tách hột muối làm ba, và rứt nguyên đùm trứng góp vốn cho chiến tranh. Nuôi con đánh giặc đêm ngày. [6]

Nên chi,

Đất này chẳng có niềm vui
Ngày quệt mồ hôi, đêm chùi lệ ướt
Trại lính trại tù người đi không ngớt
Người về thưa thớt dăm ba...
Trẻ con đói xanh như tàu lá
Cày bừa phụ nữ đảm đang
Chốn thôn trang vắng bóng trai làng
Giấy báo tử rơi đầy mái rạ…
[7]

Ôi! Oan khiên nghiệp chướng nào tròng vào cổ những đứa con bất hạnh cái nghĩa vụ bất kham đánh giặc đêm ngày?

Đánh giặc đêm ngày. Cố yên tâm đánh giặc đêm ngày. Mẹ chỉ có thể nuôi bằng khoai sắn. Nhưng, đã có Đảng lo toan tìm kiếm đồng minh vĩnh cửu: Mù lòa và dốt nát đã tuyên thệ tuyệt đối trung thành đến cuối đường quá độ. Đã có Đảng lo toan cho sứ mạng rạch ròi định danh kẻ thù: Tất cả sẽ trở thành kẻ thù, kể cả những người đồng sàng dị mộng trong đảng. Yên chí! Tất cả đều là kẻ thù. Ngoại trừ cặp bài trùng đồng minh vĩnh cửu nói trên.

*

Kết quả là nước nhà thống nhất.

Có kẻ dèm pha rằng chỉ trên mặt lãnh thổ. Mặc. Nó sẽ được cải tạo chung thân. Số phận của mọi suy nghĩ lô-gích đều như thế cả. Hiểu chứ?

Kết quả là Nam-Bắc bình đẳng.

Có người xấu miệng sửa sai thành bình sản. Mặc. Nó sẽ là nạn nhân tư sản đầu tiên được chế độ chiếu cố. Mọi người đều ngang bằng quyền lợi ở mức vô sản. Trừ đảng. Hiểu chứ?

Kết quả nhân đôi vẫn là đất miền Nam được giải phóng, cùng lúc với người miền Bắc. Một lối hòa hợp không hòa giải. Bởi thiếu hóa giải. Mặc. Đàn anh hài lòng là tốt thôi. Dân tộc chỉ là chiêu bài. Quốc tế vô sản mới là cứu cánh. Hiểu chứ?

Hiểu! Nên chi, đón người vào Nam đã có nhiều con tàu há mồm kêu giúp: Mẹ muốn sống. Mẹ muốn con sống. Chúng Tôi Muốn Sống!

Hiểu! Nên chi, nhiều bà mẹ trong Nam từng vắt cơm cho con trai bên này và con rể bên kia. Nuôi bây đánh giặc đêm ngày? Cuối đường mới bật câu tự hỏi sao thời trước lại đổ cháo nguội xuống hầm cho nó?

Hiểu! Nên chi, nhiều bà mẹ từng xào mắm ruốc thăm con học quân trường, ít lâu sau lại mang ruốc khô thăm nuôi con trong tù cải tạo. Khuyên nó đừng lo, thằng em đã thoát nghĩa vụ quân sự. Rồi tất tả ra về.

Còn chạy thăm dâu, nuôi cháu đang bị tù vượt biên.

Hiểu! Nên chi, sơ yếu lý lịch của mẹ chỉ vỏn vẹn bốn chữ: Suốt Đời Chạy Giặc.

nơi nhà anh gửi em bà mẹ
tuổi già cũng nhận lắm gian truân
xưa kia chạy giặc quanh miền bắc
vào trung ở sát chỗ hung tàn
68-72-75 dành sạch cả
dắt díu vào Nam địu với quang
bốn năm chòi lá kinh tế mới
Tây Nam khói lửa khắp bừng bừng
mẹ sống suốt đời đi chạy giặc...
chả mấy hồng nhan cũng đoạn trường
[9]

Hiểu! Nên chi, tương lai nhiều bà mẹ trẻ, mẹ già, là ở một nơi khác, chưa rõ:

Mặc kệ cỏ hoang cánh đồng gái góa
chen nhau sang nước người làm thuê
Biển Thái Bình bồng bềnh định mệnh
nhắm mắt đưa chân không hẹn ngày về…
[10]

Hiểu! Hiểu rất rõ: Độc lập, thống nhất không hề đồng nghĩa với chấm dứt chiến tranh. Lý do có gì khó? Tiến trình bình sản còn giới hạn trong nước, dù nguyên cả nước. Biên cương tổ quốc xã hội chủ nghĩa còn hẹp, tính nguyên cả khối. Chiến tranh đã lan theo đường mòn Bắc-Nam vào tận Sài Gòn. Chiến tranh vẫn có thể bào thêm đường mòn Đông-Tây lấn qua Nam Vang, vì e dân tộc láng giềng tuyệt chủng!

Có kể gì nỗi lo chính xương mẹ trắng, máu cha hồng, chất dọc, chảy quanh trụ đồng phương Bắc lần nữa?

Chiến tranh như mưa ngập đồng
Mẹ bao phen tiễn biệt chồng, lìa con
Thời gian núi lở sông mòn
Mẹ Cha xanh cỏ, con còn viễn chinh..
[11]

Kẻ thù phương Bắc, với cái dân số trên một tỷ người, nghe chừng không suy suyển mấy thời hậu chiến. Dân tộc bạn Khờ-me chỉ đỏ màu da chứ không tuyệt chủng.

Chỉ có dân tộc ta, nhờ đó, được xếp hạng kế cận đầu bảng, trên danh sách mấy quốc gia nghèo đói và lạc hậu nhất thế giới.

*

Nhờ chiến tranh và bảng sắp hạng đó, Cục Thống Kê Trung Ương đỡ mất những ngày nhìn mây trôi qua khung cửa. Đừng đề cập đến số tử thương. Hãy quên số đào ngũ B-quay. Nhưng cần ghi lại số thương binh cụt chân vì mìn cá nhân và chống chiến xa. Diện này rất đông và có trợ cấp. Không nhiều, nhưng cán bộ địa phương sẽ có thêm cơ hội xà xẻo cải thiện kinh tế gia đình. Còn phần họ ư? Câu trả lời Nga ngữ là Makeno. Dịch sang tiếng Việt là mặc-kệ-nó.

Xứ sở nhân tình
sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn đủ kiểu
nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng
Mẹ liệt sĩ gọi con đội mồ lên đi kiện
ma cụt đầu phục kích nhà quan…
[10]

*

Nhờ chiến tranh và bảng sắp hạng đó, Cục Nhà Đất thi đua học bổ túc văn hóa, làm các con tính cộng trừ nhân chia cho thật lẹ. Bình quân mỗi đầu người cần một chỗ nằm nửa thước ngang, hai thước dài.

Trên hay dưới mặt đất, như nhau. Mẹ hay con, như nhau. Phần hương hỏa kể bỏ.

những đêm không còn tiếng hát trên đá đen
đất nước nằm co, con người không chỗ ở
gió chảy ngoài trời trầy sướt đỏ…
[12]

*

Nhờ chiến tranh và bảng sắp hạng đó, có đám trẻ mồ côi bắt đầu cuộc đời bằng số không, và ra sức khư khư ôm giữ hoài hiện tại. Bởi có đâu tương lai khi thiếu mẹ? Và có đâu tương lai khi chính sách xóa đói giảm nghèo đòi xóa cả số không?

Suốt bờ lề hôn ám
Mẹ già mở mắt buồn trông
Những em bé thoát thai từ mạng nhện
Lớn lên bằng gai góc
Bằng lau sậy mọc chồn bãi rác
Trận đồ tương lai cuồng nộ phát sinh
Bẫy lừa và nọc độc…
[13]

*

Nhờ chiến tranh và bảng sắp hạng đó, những bà mẹ làm công nhân sẽ tự động được tiệt sản mà không cần nêu ý kiến lúc lâm bồn. Đó là công việc chính của các bác sĩ, còn phụ sản và sức khỏe đứa bé chỉ là chuyện vặt.

Cũng nhờ đó, những bà mẹ khác được khuyến khích không nhất thiết phải giữ con trong bụng. Phá thai miễn phí là chính sách được ưu tiên nâng cấp để lên hàng đầu thế giới.

Chiếc kéo Đảng dùng cắt tem phân phối
Gạo ngô từng lạng từng cân
Đã cắt nhỏ tình thân cốt nhục
Manh áo, niêu cơm, cuộc đời rữa mục
Vợ chẳng cậy chồng, con chẳng cậy cha
Mẹ hiền đành ôm bụng tống thai ra…
[7]

*

Vu Lan Bồn. Lễ giải đảo huyền, gỡ bỏ hình phạt treo ngược. Lễ xá tội vong nhân. Mùa báo hiếu. Hồi hướng công đức về Mẹ.

Mẹ Việt Nam và những bà mẹ Việt Nam.

Bao nhiêu bông hồng là đủ?

Mẹ trong lòng dân tộc? Dân tộc trong lòng mẹ? Chỗ đứng nào cho hai thiểu số cấu xé giành giật “lẽ phải” nhất định thuộc về một siêu cường nào khác, mà quên hẳn Mẹ? Chỗ đứng nào cho các loại nghĩa vụ quốc tế từng đập chết ngất truyền thống hiếu hòa dung nạp của dân tộc?

Chẳng ai trả lời. Nhưng sao cùng cảm một nỗi đau như nhau, cho Mẹ?

Các loại nghĩa vụ quốc tế, rồi cũng theo độ dầy mỏng của đồng rúp và đồng đô-la mà thay đổi hình dạng. Tốt nhất là đừng đề cập tới vào những lúc không cần thiết, như khi truyền thống hiếu hòa dân tộc chưa hồi tỉnh.

Tuy nhiên, lẽ phải, sau đợt thống kê toàn bộ thương vong ở cuối các cuộc chiến liên tục nửa thế kỷ qua, dù không báo trước đặc tính tạm thời giai đoạn, đã đứng về phía không chỉ quên mất Mẹ, mà còn đủ sức tàn ác để treo ngược Mẹ bằng sợi chỉ đỏ mệnh danh tất yếu lịch sử.

Dù yên ắng trên mặt, dường như bên dưới cái lịch sử phẳng lì đó vẫn nghe chừng có điều u uất?

Cả một nền văn học hoàn toàn được định hướng vững chắc, được nuôi dưỡng hùng hậu cho chiến tranh và ngược lại, những tưởng thời thống nhất sẽ sản sinh ra các đại tác phẩm tầm cỡ. Cho xứng đáng với “chân lý” đoạt về tay những quan thầy hào phóng. Cho xứng đáng với dãy Trường Sơn hai mặt Đông Tây cùng đen trụi một màu than. Cho xứng đáng với bao tầng đất đá cùng đỏ quạch một màu máu anh em chung bọc của cả hai miền Nam-Bắc. Thấm sâu vào lõi địa cầu đến chạm các túi dầu dưới thềm lục địa....

Cả một nền văn học vững chắc và hùng hậu đó, gần hai thập niên sau, vẫn lắc đầu bất lực. Hình như cái khung định hướng không cho phép các nhà văn nhà thơ viết về cả những điều bất toại cỏn con. Mà không nói bật được nỗi bất hạnh và bất bình của Mẹ, làm sao có được tác phẩm lớn để đời?

Sau cùng, có phải núi xương sông máu kia oan uổng, ở tầm vóc lớn là trên thực tế lịch sử giành độc lập, và ở phạm vi nhỏ hơn là không trở thành chất liệu cho các đại tác phẩm? Rủi thay, mà cũng may thay!

Mẹ ơi, xin đừng chờ!

Bởi có kẻ vẫn tiếp tục gào to: Không có gì quý hơn những huy chương.

Ơi. Những bông hồng. Đám con mù lòa ngỗ nghịch chưa kịp cài lên áo để mừng còn đó Mẹ Việt Nam, gai đã đâm thấu tim, xuyên phổi Mẹ. Chừng như bị cuốn vào một thứ trò chơi tuổi dại trường kỳ, chúng rộ cười ha hả, hỏi đố: Ai Thắng Ai? Có rõ đâu từ đó, cả bọn nhìn nhau, cùng biết là đời mình không lớn khôn thêm.

Suốt đời không thể lớn khôn thêm.

Đóa hồng rã cánh trước khi tàn. Mẹ Âu Cơ xoay lưng, vai run từng nhịp, bước chậm chân quay trở vào truyền thuyết.

Một mình.

Chú Thích:

(1) Mịch La Phong; (2) Quang Dũng; (3) Đông Hồ; (4) Xuân Diệu; (5) Tố Hữu; (6) Phạm Duy; (7) Nguyễn Chí Thiện; (8) Trịnh Công Sơn; (9) Chu Vương Miện; (10) Nguyễn Duy; (11) N.D.T.; (12)
Thường Quán; (13) Hoàng Xuân Sơn.

05 tháng 7, 2006

Giai Cấp Và Dân Tộc (CT26)

Lưu Tấn Đông

Hãy cùng nhìn lui lại để thấy Việt Nam ta đã tiến một bước dài so với thời kêu gọi thế giới cứu đói năm 1985. Lùi xa hơn nữa và nhìn thật kỹ, quả là ta đã nhảy vọt một tầm dài so với thời thống nhất ý chí tiêu diệt tư sản ngay sau 1975. Cũng có thể nói là ta đã mang hia bảy dặm so với thời Cách mạng mùa Thu 1945. Việt Nam ta ngày nay đã đủ ăn (chí ít là về mặt lương thực thực phẩm), người lao động tay chân đã vượt mức thù lao 1USD/ngày.

Nhưng nếu nhìn quanh, Việt Nam ta vẫn chưa bước ra khỏi bảng xếp hạng những quốc gia phát triển chậm nhất hành tinh, với năng lực sản xuất vào hàng thấp nhất thế giới, và không còn cách nào khác hơn là chuẩn bị hội nhập vào cuộc đua toàn cầu hóa với một mảnh kiến thức khá nông và một niềm tự tin cực mỏng.

Chúng ta sẽ chọn cách nhìn nào để triệt tiêu sức ỳ, đánh thức tiềm lực và đề xuất những giải pháp năng động đủ sức kích thích cả nước tiến lên cùng nhịp với nhân loại?

*


Thật ra, sức ỳ đó đến từ đâu?

Trước khi Đảng ta xuất hiện, có phải đó là chế độ phong kiến với sự lột xác của giai cấp nông nô thành nông dân được vua cấp ruộng? Đến khi Đảng ta ra đời, nhân danh đại diện giai cấp công nhân cách mạng và tiên tiến, có phải đó là sự đồng hóa nông dân và ngư dân vào giai cấp công nhân vốn không nhiều ở nửa đầu thế kỷ 20? Hay đó là lúc mà Đường Cách Mệnh từ những lối mòn dọc Trường Sơn sắp có điều kiện biến thành xa lộ, thì giai cấp công nhân thi đua phát huy cách mạng tính dưới hình thức lao nô trả nợ chiến phí hồi cuối thập niên 1970, biến dần thành “lao động hợp tác” ở Đài Loan, Mã Lai để chào mừng thế kỷ 21? Hay đó là thực tiễn hiện tại, công nhân liên doanh của ta vẫn bị chủ nhân đập giày vào mặt còn trí thức của ta bị trói tay ở giữa thời đại kinh tế tri thức chủ đạo của xu thế toàn cầu hóa, mà không ai trong chúng ta đoan chắc được vị trí của giai cấp công nhân hay vai trò lãnh đạo cả nước của giới đại diện giai cấp công nhân?

Nhìn từ một góc độ giản đơn khác, biết đâu chỉ vì Đảng chuyên chính lãnh đạo cả nước chỉ cốt để nhân danh sứ mệnh lịch sử mà bảo vệ quyền lợi của riêng mỗi giai cấp do nó đại diện, như Mác đã dạy? Khốn nỗi, Mác còn dạy thêm là một khi đã cướp chính quyền, giành quyền lãnh đạo, thì quy luật kế là việc ôm giữ quyền lực để bảo vệ người vô sản đã biến thành hữu sản sẽ trở thành lực cản cực lớn đối với các bước tiến tiếp theo của xã hội.

Dân tộc ta đứng đâu trong sự chọn lựa đó?

Dân tộc ta đã làm gì hoặc sẽ làm gì đối với trì lực đó?

*


Câu hỏi kế tiếp nữa là: Làm thế nào để đánh thức tiềm lực?

Tiềm lực còn ngủ yên, nói theo nhà thơ Nguyễn Duy, hẳn do bởi nhiều yếu tố. Nhìn từ góc tư duy của Đảng ta, cứ mỗi đận rập khuôn giáo điều, kiêu ngạo cộng sản và xa rời dân tộc... là đều gánh lấy thất bại thảm hại, chí ít là ở mặt triệt tiêu tiềm lực. “Cải Cách Ruộng Đất” theo mô thức TQ là một nỗi kinh hoàng kéo dài cho nông dân VN từng là giai cấp nền tảng cái nôi cách mạng của ta. Các sự cố “Nhân Văn-Giai Phẩm”, “Xét Lại-Chống Đảng”... đều kinh hoàng không kém. Cực điểm của nỗi kinh hoàng và hệ quả tận diệt tiềm lực, phải chăng chính là ba cuộc chiến Bắc-Nam, Kampuchia và cuộc “giáo trừng” của bọn bá quyền phương Bắc? Sau đó, liệu là còn chỗ nào cho tiềm lực ngoi dậy trong bối cảnh tem phiếu hộ khẩu, ngăn sông cấm chợ, trù dập trí thức, tiêu diệt tư sản, tập trung cải tạo, giáo dục nhồi nhét, y tế lá cây, bưng bít thông tin và ngoại giao khấu tấu? Tiềm lực còn đó để ngủ yên đã là may!

Có bao giờ nhân dân VN được hỏi và đồng ý với những chính sách dứt điểm tiềm lực liên tục do Đảng ta độc quyền phóng tay phát động như vừa kể?

Dân tộc ta cần làm gì đối với căn nguyên trù dập tiềm lực cả nước như vừa kể?

Để giải phóng tiềm lực, phải chăng chính chúng ta trước tiên phải tự giải phóng chính mình ra khỏi cỗ máy xay tiềm lực con người và tài nguyên đất nước?
*


Một vài việc cụ thể mà chúng ta có thể lựa chọn ngay là:

  1. Tập trung nỗ lực phấn đấu cho đất nước cất cánh, dân tộc thăng hoa, chứ không vì sự tồn tại hay tương lai của bất kỳ một giai cấp nào.
  2. Nếu đã có một giai cấp nào đó chọn lựa một đảng phái làm đại diện thì các giai cấp hay thành phần khác của dân tộc cũng có quyền ngang bằng để chọn một đảng phái đại diện cho từng tập thể của họ.
  3. Trong lúc toàn dân chưa thực sự có một chọn lựa nào về chính thể và chính phủ điều hành quốc gia, hãy ngưng sử dụng cụm từ “Chủ nghĩa Xã hội” trong các văn kiện của Chính phủ, Nhà nước và các loại văn thư hành chính.
  4. Điều chỉnh ý niệm “cơ quan ngôn luận”, để báo chí và các nhà xuất bản không nhất thiết trực thuộc bất cứ cơ quan chủ quản nào, mà có thể do tư nhân phát triển kinh doanh trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
  5. Cả nước cần sớm áp dụng chương trình giáo dục chính trị như một môn học nhiệm ý ở các cấp trung học và đại học.
  6. Chấm dứt vai trò chủ đạo và đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa các xí nghiệp quốc doanh, đồng thời, tạo dựng một sân chơi bình đẳng cho giới doanh nhân trong và ngoài nước.

Nhân dân hãy bỏ phiếu bầu cử theo đúng ý nghĩ của mình. Nếu điều kiện lựa chọn người ứng cử vẫn do sự thông qua của Đảng bộ các cấp, thì nhân dân chúng ta hãy lựa chọn lấy cho mình một thái độ ứng xử đúng đắn nhất là không đi bầu hoặc bỏ phiếu trắng.

Ban biên tập Canh Tân

Mức Trưởng Thành Trên Đất Thái (CT26)


Vũ Thạch

Vận mạng chính trị của Thủ tướng Thái, ông Thaksin Shinawatra, xem ra vẫn tiếp tục hẩm hiu trong những ngày qua, thật khác xa với cái thời 2001, khi ông đại diện đảng Người Thái Thương Người Thái, đắc cử vào ghế Thủ Tướng giữa tiếng hoan hô của toàn dân sau mấy năm liền khủng hoảng kinh tế. Và chỉ mới năm ngoái, 2005, ông lại đắc cử với số phiếu dẫn đầu rất vẻ vang. Nhưng không lâu sau đó, gia đình ông quyết định bán hãng điện thoại di động duy nhất của nước Thái, do ông và các con ông làm chủ, cho giới đầu tư Singapore. Quyết định này, tuy không vi phạm luật pháp Thái, nhưng đụng phải làn sóng tức giận mãnh liệt của dân Thái. Nhiều người cho rằng ông Thaksin đã bán đứng một phần nền an ninh quốc gia cho ngoại nhân.

Nay sự phẫn nộ của dân chúng đang lan từ gia đình ông Thaksin sang đảng Thái Thương Thái do ông lãnh đạo. Vào giữa tháng 6 năm 2006 Ủy Ban Bầu Cử Quốc Gia chính thức truy tố trước toà Bảo Hiến một số vi phạm luật lệ của đảng Thái Thương Thái trong cuộc bầu cử vào tháng 4 năm 2006 vừa qua, mà nặng nhất là tội danh thuê mướn các đảng nhỏ ra tranh cử lấy lệ tại một số vùng để tránh qui định phải được một số phiếu tối thiểu nếu chỉ có một đảng tranh cử.

Tòa Bảo Hiến đã chính thức nhận xử vụ kiện này. Nếu Tòa xác nhận các tội danh kể trên là đúng, đảng Thái Thương Thái sẽ bị giải thể toàn bộ và vĩnh viễn. Các lãnh tụ đảng này, kể cả ông Thaksin, sẽ bị cấm đảm nhận bất kỳ chức vụ chính quyền nào trong 5 năm. Đây là hình phạt rất nặng đối với cả tổ chức lẫn các nhân sự liên hệ.

Nhưng nếu nhìn từ góc độ cơ cấu dân chủ thì đây quả là chỉ dấu của một bước tiến vô cùng lớn lao cho nền hiến pháp chỉ mới ra đời vào năm 1996 trên đất Thái. Để có một tòa án dám xét xử đảng đang nắm quyền và vị thủ tướng đương nhiệm, cơ cấu chính quyền Thái đã thực sự đạt đến lằn mức tam quyền phân lập; với 3 ngành hành pháp, lập pháp, tư pháp thực sự kiểm soát lẫn nhau. Để có một Ủy Ban Bầu Cử dám vạch ra những sai trái của đảng cầm quyền, người dân Thái đã thực sự tin tưởng và không cho phép một ai được đứng trên pháp luật; và các định chế phi chính phủ trong xã hội đã rất trưởng thành trong việc kiểm soát hoạt động và hiệu năng của chính quyền.

Mức thành công này của dân tộc Thái lại càng lớn lao nếu nhìn lại lịch sử đất nước này dưới các gót chân quân phiệt trước năm 1996. Suốt từ sau thế chiến 2, cứ hễ quân đội không vừa ý là lại có đảo chánh, lại có một ông tướng ra nắm quyền. Sau một thời gian ngắn gặp phải sự phản đối và bất hợp tác của người dân, chính phủ quân phiệt ấy lại được thay thế bằng một chính phủ dân sự. Chu kỳ thay đổi thể chế này được lập lại năm 1963, 1969, 1971, 1978, 1991, 1992, và mãi đến năm 1995, dân tộc Thái mới thuyết phục được tất cả mọi thành phần xã hội về qui luật: không một chế độ nào có thể tồn tại nếu không được sự dung dưỡng của người dân. Ngay cả những chế độ độc tài, dù có thế lực to lớn hay tàn ác đến đâu, đều sẽ xụp đổ nếu người dân rút lại sự hợp tác của họ.

Một điểm quan trọng khác, so với những hình thức xuống đường bằng bom xăng và gậy gộc của thời 60, 70, quả thật dân tộc Thái đã tiến một bước dài trong kỹ thuật đấu tranh quần chúng, qua việc thiết lập và tận dụng các định chế độc lập trong xã hội, để vừa không đổ máu vừa nâng mức hữu hiệu lên gấp nhiều lần.

Tại vùng đất hình chữ S không xa Thái Lan là bao, người ta thấy cơ cấu xã hội Việt Nam không những không tiến tới mà còn chạy ngược giòng thời gian theo "kim chỉ Bắc", chạy băng qua cả những năm Pháp thuộc, về mãi tận thời phong kiến của thế kỷ trước để nhất định ôm lấy mô hình cai trị "Chính Quyền là Cha Mẹ", một mô hình tặng không cho những kẻ cầm quyền tính đương nhiên và vĩnh viễn, và dĩ nhiên không chấp nhận bất kỳ hình thức khác biệt ý kiến hay cả gan xúc phạm nào từ thành phần dân chúng mà họ chỉ xem là con cái...

So sánh 2 mức độ và cơ cấu cai trị xã hội, quả thật dân tộc Thái Lan đang có khoảng cách dẫn trước hàng thế kỷ so với dân tộc Việt Nam. Trong lúc người dân Thái lao nhanh về phía trước, phát triển mọi mặt xã hội theo hướng tiến bộ của nhân loại suốt mấy thập niên qua, thì cả nước Việt Nam chúng ta, suốt 30 năm liền dưới bàn tay cai trị của đảng CSVN, ra sức chạy ngược giòng tiến hóa, và đến nay vẫn nhất định không quay đầu nhìn lại.

Mùa Đông Qua Rồi (CT26)


Từ Nguyên Thạch

Mùa Đông qua rồi, tôi đem phơi phóng
Những chăn màn quần áo mốc meo
Chợt nhận ra trong trái tim, hình bóng
em vẫn ở bên tôi giữa ngày tháng gieo neo

Mùa Đông qua rồi, tôi gom hết lá
Đem đốt đi những khô héo trong hồn
Sợi khói cay có làm tôi rơi nước mắt
Để cái nhìn tôi được xanh hơn

Mùa Đông qua rồi, tôi đi phát cỏ
Trồng thêm những luống bắp, luống cà
Những khóm hoa làm niềm vui nho nhỏ
Để vườn tôi bớt trồng trải, bao la

Mùa Đông qua rồi, tôi ngồi soạn lại
Những lá thư trong ngăn kéo cuộc đời
Những gương mặt người thân như hoa trái
Trên cây đời tôi còn lắm xanh tươi

Mùa Đông qua rồi, tôi đem phủi bụi
Sửa soạn hành trang cho một chuyến đi dài
Đã bao lần tôi và em trì hoãn
Chuyến tốc hành đến cuộc sống ngày mai.

Cùng tất Biến, Biến tất ... Biến Mất (CT26)


Vân Thanh

Khi các biện pháp hứa quanh, hù dọa, đập phá đồ đạc, bắt giữ, rồi áp tải những người dân đang khiếu kiện tại Hà Nội về nguyên quán không giải quyết được gì mà chỉ thấy số người kéo về Hà Nội đòi công lý càng ngày càng tăng lên;

Khi các biện pháp sừng sộ, hăm dọa, và ngay cả đóng vai du đảng xông vào đánh đấm các nhà dân chủ không có tác dụng, mà chỉ thấy chính công an sau đó nài nỉ các nạn nhân đừng nói lại với thế giới bên ngoài;

Khi các ước muốn thẳng tay đàn áp người dân trong nước bị lấn át bởi nỗi lo sợ bị mất những nguồn tiền chung từ các mối giao thương với nước ngoài để nuôi chế độ, và càng lo sợ sẽ mất các nguồn tiền riêng đang đầu tư tại các nước phương Tây;

Những người lãnh đạo chế độ độc tài CSVN chẳng biết làm gì hơn, đành đem bản Nghị Định 38, mới ban hành tháng 3 năm 2005 đã rơi vào quên lãng, ra phủi bụi bặm và lập một Hội Nghị Tập Huấn vào tháng 6 năm 2006 để làm lý cớ hù họa dân chúng một lần nữa.

Điều mà đảng CSVN không chịu rút tỉa kinh nghiệm là, cũng giống như lần trước, những điều khoản vô lý đến độ buồn cười trong cái Nghị Định 15 điểm này đang tạo nhiều tác dụng ngược lên chính cái chế độ ban hành ra nó.

Ngay tại điều 3, Nhà Nước nói rằng cơ quan các cấp có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục mọi thành viên "thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và trong từng lãnh vực công tác; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân, điều kiện gây ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng". Người đọc thấy ngay sự bịp bợm của Nhà Nước khi gọi những luật lệ giới hạn ngặt nghèo các quyền dân chủ bằng cái tên hoa mỹ "quy chế dân chủ", và buộc các cơ quan phải dùng các quy chế này để bóp chết thật sớm những sinh hoạt có chút gì màu sắc dân chủ.

Sự nham nhở tăng dần tại điều 5.1 khi Nhà Nước cấm việc "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ của công dân để thực hiện hoặc lôi kéo, kích động, mua chuộc, cưỡng ép người khác tập trung đông người ..." Trong thực tế ngày nay tại Việt Nam, người ta chỉ thấy báo và đài của Đảng, loa của phường, người của Tổ Dân Phố, và các hung thần công an khu vực làm những trò lôi kéo, cưỡng ép đó đối với người dân trong những ngày lễ lạc của chế độ mà thôi. Do đó, nếu đây là những luật lệ nghiêm túc thì trước hết phải lôi những kẻ ĐANG cưỡng ép người dân ra phạt trước và buộc họ phải chấm dứt ngay những hành động phạm pháp này.

Mức hề tính tăng nhanh tại điều 5.3: "Chỉ áp dụng biện pháp cưỡng chế sau khi đã áp dụng các biện pháp hướng dẫn, giáo dục, thuyết phục ..." Trong thực tế, 83 triệu người Việt Nam đều biết Công An chỉ có 2 thái độ đối với dân, hoặc nạt nộ lập tức theo kiểu "miệng tao là pháp luật đây", hoặc tử tế hơn thì viện lý do "tôi chỉ làm theo lệnh cấp trên thôi". Khi chính các nhân sự này, trong thâm tâm, đều biết việc mình theo lệnh chế độ đàn áp người dân để kiếm sống là trái với luân lý, đạo đức bình thường của con người, thì làm sao có chuyện công an mở miệng hướng dẫn, giáo dục, hay thuyết phục quần chúng ?!

Và có lẽ trắng trợn nhất là điều 7 của bản Nghị Định, đó là "Quy định này không áp dụng đối với các hoạt động do các cơ quan Đảng, Nhà Nước, Mặt Trận Tổ Quốc và các tổ chức chính trị-xã hội tổ chức". Rõ ràng điều luật này đặt Đảng và các sản phẩm của Đảng lên trên pháp luật. Chỉ cần nhìn vào điều này, người ta đã đủ hiểu những chủ trương về Nhà Nước Pháp Quyền sẽ chỉ tiếp tục là những từ ngữ nhằm lừa bịp dân chúng và thế giới mà thôi. Nhưng quan trọng hơn cả là Nhà Nước dựa vào điều luật nào của Hiến Pháp, dù là loại Hiến Pháp do chính chế độ đẻ ra, để đặt Đảng CSVN lên trên pháp luật như vậy. Và nếu chính luật của Nhà Nước lại đang vi phạm pháp luật thì toàn bản Nghị Định này có giá trị gì không?

Nhưng có lẽ điều thảm hại nhất của Nghị Định 38 là bản thông tư hướng dẫn thi hành Nghị Định này của Bộ Công An. Thông tư này định nghĩa những đám đông mà công an phải dẹp ngay là những nhóm tụ tập từ NĂM người trở lên. Thật khó hiểu một chế độ luôn tự khoe mình dân chủ gấp ngàn lần tư bản, một Đảng luôn tự nhận mình được chính nhân dân trao cho mình sứ mạng cai trị đất nước vĩnh viễn, nay lại lo sợ về từng nhóm 5 người dân tụ tập lại. Nếu thi hành đúng Nghị Định này, thì mỗi ngày trên cả nước phải bắt hàng triệu những người bán và ăn hàng rong, những nhóm du khách tụ tập trước các thắng cảnh, ngay cả những nhóm học sinh hư xe đứng lại trên lề đường.

Và sau hết, với việc người dân bị cấm hội họp tại nhà tư, dù là để thờ phượng theo tôn giáo, và nay với Nghị Quyết 38 cấm tụ tập nơi công cộng, thì cái gọi là quyền tự do hội họp theo điều 69 của Hiến Pháp sẽ áp dụng ở đâu, có lẽ bên ngoài lãnh thổ Việt Nam chăng ?!

Những người cầm đầu Đảng CSVN dư biết "trò hù" này đã trở thành "trò hề" trong mắt dân chúng và cả trong lòng những người thừa hành như một loại hò hét trong những màn hát bội, nhưng đảng thực sự chẳng biết làm gì hơn. Họ chỉ lập lại đúng qui trình của chính quyền thực dân tại Việt Nam thuở trước hoặc bất kỳ chế độ độc tài nào trên thế giới trong thời gian gần đây khi bắt đầu bước vào giai đoạn cuối trào. Khi những chế độ này biết không còn phương pháp tuyên truyền nào có thể tiếp tục lừa phỉnh về bản chất cốt lõi của chế độ và khi quá bí về các biện pháp nhằm hóa giải cơn giận ngày một dâng cao của dân chúng, những kẻ cầm quyền không còn cách nào khác ngoài việc lớn tiếng hăm dọa ngoài mặt, và bên trong âm thầm tẩu tán tài sản ra nước ngoài.

Nếu đây là cách cùng tất "BIẾN" mà đảng CSVN nhất định chọn, thì dân tộc Việt Nam cũng sẽ chẳng có cách nào khác ngoài việc giúp đảng "BIẾN MẤT" vĩnh viễn để đất nước này bắt đầu chuyển mình đi lên.

Núp Bóng Thuộc Cấp (CT26)


Phan Long

Ðọc lại chuỗi dài những tháng ngày bị sách nhiễu của Nhà Dân Chủ Ðỗ Nam Hải, người ta thấy có điểm lạ. Khi công an dàn cảnh tai nạn lưu thông để lục soát xe và lấy sách của ông Hải ngày 8/12/2005, hai người ký giấy bắt người và giữ sách là Trung tá và Thượng tá công an. Ðến ngày 16/1/2006, thì đến phó chủ tịch UBND Thành Phố, Nguyễn Thành Tài, ký giấy đòi phạt 20 triệu đồng VN. Ngày 14/2/2006, lại một Trung tá công an quận ký giấy đòi ông Hải đến hạch sách. Trong suốt thời gian này, ông Hải khẳng định việc công an tịch thu sách của ông là vi phạm pháp luật, và việc phó chủ tịch UBND thành phố đòi phạt tiền lại càng chứng tỏ nhà nước hoặc chẳng hiểu gì về luật pháp hoặc chẳng xem pháp luật ra gì.

Ðến ngày 21/6/2006, giới cầm quyền ra biện pháp mạnh hơn, đòi siết đồ đạc của ông Hải để trừ vào tiền phạt, nhưng lần này giao cho một chủ tịch UBND quận ký quyết định và 2 tuần sau đó, giao cho UBND phường thi hành.

Ðiều người ta lấy làm lạ là thường khi một vụ việc kéo dài, nghĩa là gặp nhiều rắc rối phức tạp, thì càng lúc vụ việc càng được chuyển lên cấp cao hơn chứ ít khi đi ngược xuống cấp thấp. Và theo kinh nghiệm quá khứ, khi chế độ càng muốn ra tay làm mạnh để hù dọa những người khác chính kiến, lại càng tăng cấp bộ trách nhiệm, chứ không giao ngược cho cấp thấp tại địa phương.

Hơn thế nữa, cách hành xử này đối với trường hợp của ông Ðỗ Nam Hải không phải là hiện tượng đơn lẻ, nhưng xảy ra khá nhiều trong những tháng gần đây. Ngoài việc công an hăm dọa và cấm các nạn nhân bị sách nhiễu không được thuật lại các buổi công an tra khảo với thế giới bên ngoài, người ta còn thấy sự biến mất của các quan chức cấp cao cấp khi tiến vào khâu trực tiếp ức hiếp, đàn áp người dân. Việc đập phá nơi thờ phượng, đánh đấm các nhà dân chủ, và ngay cả giết hại đồng bào thiểu số Tây Nguyên đều được giao cho cán bộ phường, xã thực hiện, ít là trên giấy tờ.

Có nhiều giả thuyết để giải thích hiện tượng này. Có người cho rằng, trong thời buổi mở cửa buôn bán với thế giới hiện nay, các quan chức lớn sợ bị quốc tế chế nhạo vì chính họ biết những lệnh lạc của mình rất quái dị so với tiêu chuẩn hành xử của một chính phủ bình thường trên thế giới; và nếu các lệnh này vi phạm nhân quyền trầm trọng, những thành phố mà họ cai trị còn có thể bị khước từ các giao kèo kinh tế béo bở. Cũng có người cho rằng, việc đùn đẩy cho cấp dưới này chỉ vì các quan chức lớn sợ mất mặt với dân chúng và chính tập thể đảng viên của họ. Ai cũng biết lệnh lạc của Nhà Nước ngày nay chỉ để hù dọa, chứ chẳng còn mấy ai tuân theo. Vì dẫn đầu trong việc coi thường luật pháp trên cả nước chính là cán bộ có chức quyền, đảng viên cao cấp, và thân nhân của họ.

Tuy nhiên, nếu có dịp so sánh với cách hành xử của giai cấp cai trị thuộc các chế độ độc tài khác vào cuối giai đoạn cầm quyền của họ, người ta có thể thấy một lý do chính xác hơn. Tại các nơi này, từ Ðông Âu đến các quốc gia thuộc Liên Xô cũ, trong những tháng ngày cuối cùng, những vụ trực tiếp áp bức người dân, từ đánh đập các nhà dân chủ đến giết người tập thể theo kiểu trừ khử chủng tộc, v.v... đều được đẩy cho cán bộ cấp thấp thực hiện. Khi nhóm lãnh đạo tại thượng tầng đều biết không thể cưỡng lại xu hướng dân chủ của nhân loại hôm nay, và ngày tàn của các chế độ độc tài còn lại trên thế giới chỉ còn là vấn đề thời gian, họ biết sẽ có ngày phải trả lời trước tòa án dân tộc và trước tòa án quốc tế về những hành động côn đồ, đẫm máu của ngày hôm nay. Cùng lúc đó họ vẫn muốn đè bẹp các lực lượng dân chủ hầu kéo dài những ngày tháng cai trị để cào vét càng nhiều càng tốt trước khi ra đi. Ðể đạt được cả 2 mục tiêu này, cách hay nhất, và có lẽ "duy nhất", là đẩy các hành động trực tiếp đàn áp dân chúng cho cấp dưới thi hành.

Dĩ nhiên, trong mọi chế độ độc tài, bao giờ cũng có những thành phần sẵn sàng lăn vào thi hành các mệnh lệnh để mong tiến lên "chiếu trên" tuy vẫn biết những tấm gương "dê tế thần" trước đây và sau này. Tuy vậy, đại đa số cán bộ cấp thấp đều bị giằng co giữa 2 nhu cầu, vừa phải giữ miếng cơm hiện tại cho bản thân và gia đình, vừa phải trả lời lương tâm và lo sợ về các hình phạt của dân tộc và nhân loại có ngày sẽ ập xuống. Tại các phiên xử tội phạm chống lại nhân loại trước tòa án quốc tế trong những năm qua, loại bào chữa "tôi chỉ thi hành theo lệnh trên" đã quá nhàm và không còn thuyết phục được ai. Ngày nay mỗi cá nhân phải chịu trách nhiệm về hành động của mình. Và với thời đại tin học và Internet ngày nay, từng hành động áp bức của các nhân sự của chế độ đang được chuyển ra nước ngoài và ghi lại thành hồ sơ. Cộng đồng người Việt hải ngoại đang tiếp tay tích cực trong việc này và chuyển tiếp dữ kiện đến các cơ quan lưu trữ quốc tế về tội phạm chống lại loài người.

Trước tình cảnh đó, nếu là người có lương tâm hoặc không muốn bị chịu án chung với chế độ mai sau, những cán bộ cấp thấp phải làm gì ?

Thật khó để trả lời câu hỏi này, vì có quá nhiều trường hợp khác nhau. Tuy nhiên, thái độ và cách hành xử của công an, cảnh sát Serbia trong những tuần lễ cuối của chế độ độc tài Slobodan Milosevic có thể là những thí dụ cụ thể cho những ai cần biết. Vào những ngày sôi nổi tháng 9 năm 2000 đó, khi được lệnh dàn xe cảnh sát ngang các ngã đường chính để chặn từng đoàn biểu tình từ các tỉnh kéo về thủ đô Belgrade, các đoàn công an và cảnh sát đã tuân lệnh và làm đúng như vậy. Nhưng khi đoàn xe của dân chúng lũ lượt kéo đến, công an tại các nút chặn ôn tồn thương lượng với đại diện đoàn biểu tình và đồng ý khoanh tay đứng nhìn để dân chúng đẩy xe công an vào lề đường. Tại tòa nhà quốc hội cũng vậy. Khi được lệnh, cảnh sát Serbia nhanh chóng dàn hàng bao quanh tòa nhà này. Nhưng khi dân chúng kéo đến, họ tiếp tục đứng yên bất động. Dân chúng lập tức hiểu ý, đi xuyên qua hàng rào cảnh sát tiến vào quốc hội đòi Milosevic phải tôn trọng kết quả bầu cử. Thế là cảnh sát không đụng đến dân và dân không đụng đến cảnh sát.

Một cách tổng quát, cán bộ cấp thấp tại một số chế độ độc tài đã chọn cách hành xử rất khôn khéo, đó là tuân hành những mệnh lệnh có tính hình thức và hù dọa, nhưng không thực sự nhúng tay vào những vụ đàn áp quần chúng và tuyệt đối không đụng đến tính mạng người dân. Nếu cấp trên chỉ thị những hành động tàn bạo, hãy để họ tự làm lấy, đặc biệt là những kẻ hưởng lợi nhiều nhất hiện nay và có phương tiện lẩn tránh ngày mai đang ngồi ngất ngưởng ở thượng tầng.

Như dân chúng tại các chế độ độc tài vừa sụp đổ, người dân Việt Nam sẽ nhớ rất rõ những ai đàn áp họ nhưng cũng rất tinh tế nhận ra những ai cố tránh không áp bức họ theo lệnh trên. Nếu không có tài sản tích lũy và phương tiện để chạy ra nước ngoài như những kẻ cai trị ở thượng tầng, các cán bộ cấp thấp vẫn có thể chọn tương lai cho mình bằng các hành xử đúng đắn trong những ngày trước mặt.