05 tháng 9, 2005

Thư Ngỏ (CT16)

Nhìn lại những thăng trầm của lịch sử nhân loại, chúng ta thấy bật ra một chân lý: Bất kỳ một chế độ nào không đáp ứng được nguyện vọng chung của nhân dân, chế độ đó sẽ phải sụp đổ; và mũi nhọn xung kích để đục thủng cái lỗ ban đầu của mọi bức tường cai trị, khơi mào cho sự đứng lên của quần chúng... thường là một thành phần thiểu số có lý tưởng. Ngày hôm nay, đảng CSVN không đáp ứng được nguyện vọng của đa số nhân dân. Ngày hôm nay, đã có một tầng lớp lý tưởng đang dồn mọi nỗ lực để đất nước đi lên. Vậy thì tại sao đất nước ta vẫn chưa có những thay đổi như mọi người mong đợi? Có nhiều nguyên nhân:

Khoảng cách giữa khát vọng của thành phần lý tưởng và nguyện vọng của quần chúng: Khát vọng của thành phần lý tưởng là tự do dân chủ thực sự cho đất nước. Khát vọng này đã trở thành khẩu hiệu chính của các đòi hỏi, đấu tranh. Từ nhận thức tư duy, những người lý tưởng đều hiểu rõ đây là nhu cầu sinh tử của cả dân tộc, là đích đến tối hậu. Ngược lại, khát vọng của quần chúng là giải quyết được những âu lo trước mắt: cơm no áo mặc, công ăn việc làm. Tự do dân chủ là một điều biết là cần, nhưng xa vời khi trước mắt phải chạy lo đời sống kinh tế. Đại số quần chúng chưa nhận thức được rằng chỉ có tự do dân chủ mới đảm bảo những điều kiện cần thiết để giúp mỗi người dân thoát khỏi bế tắc kinh tế và thúc đẩy xã hội một cách lâu dài để đưa đến sự phát triển bền vững chung của cả nước. Trong bối cảnh nhận thức còn tương đối ấy ở nước ta hiện nay, thiểu số những người lý tưởng cần quảng bá rộng rãi những lý thuyết vốn còn xa lạ với đại khối quần chúng, bằng cách trình bày những ý niệm này trong tầm nhìn sát với thực tế đời sống bình thường, đa dạng của người dân hơn.

Khác biệt về chính kiến giữa những thành phần thiểu số lý tưởng: Những người lý tưởng tuy có cùng một mẫu số chung là lòng yêu nước và khát vọng đem lại tự do dân chủ cho dân tộc, nhưng cuộc chiến trước năm 1975 vẫn còn để lại những tàn đọng ranh giới của những người "quốc gia" và "cộng sản". Người trong Nam kẻ ngoài Bắc. Người bộ đội chính quy, kẻ từ miền Nam tập kết. Cùng đòi hỏi dân chủ đa nguyên, nhưng vẫn có sự khác biệt giữa những người dứt khoát chia tay ý thức hệ CS, phủ nhận vai trò độc tôn của đảng, với những người muốn bảo vệ đảng, chỉ muốn đảng thay đổi cho tốt hơn. Cùng đấu tranh để tạo những đổi thay nhưng vẫn khác nhau ở quan điểm phải lấy sức mạnh dân tộc làm chính, hoặc dựa vào cường quốc nước ngoài...

Khác biệt về bản chất giữa những thành phần thiểu số lý tưởng: Những người lý tưởng có thể là những đảng viên hay cựu đảng viên lão thành đã từng cống hiến cả đời mình cho lý tưởng cộng sản. Có thể là những nhà trí thức đã từng phục vụ cho chính quyền miền Nam cũ. Là những người lính Việt Nam Cộng Hòa bên cạnh những chiến sĩ Quân Đội Nhân Dân. Có thể là những thanh niên, chuyên gia, trí thức - một thế hệ mới - không dính dáng, ràng buộc gì đến cuộc chiến tương tàn của quá khứ. Có thể là những tu sĩ đang đứng giữa hai con đường trách nhiệm - đạo pháp và đất nước... Những khác biệt này dẫn đến những khác nhau về bản chất con người và ít nhiều tạo nên định kiến làm những thành phần vốn đã là thiểu số mà vẫn chưa kết hợp lại được với nhau. Mẫu số chung về dân tộc tuy có đó nhưng chưa đủ sức mạnh để san bằng dị biệt.

Giới hạn về phương pháp vận động quần chúng: Trong khi mọi phương tiện truyền thông, báo chí đều nằm trong tay của đảng và nhà nước, thì đa phần các nhà tranh đấu đều chọn cho mình phương thức kiến nghị thư, viết bài và phổ biến chui. Với phương tiện điện toán toàn cầu, những tiếng nói của thành phần lý tưởng đã được vang rộng xa nhưng vẫn còn giới hạn trong thành phần sinh viên, trí thức có khả năng sử dụng email. Còn lại đa phần quần chúng bình dân vẫn khó biết hay chẳng biết được những gì cần biết. Thành phần lý tưởng vẫn chưa có những phương hướng tiếp cận khác với quần chúng nhằm truyền đạt tư tưởng, chưa thoát ra được phương thức đấu tranh lý thuyết và chưa mở rộng việc truyền đạt tư tưởng ra ngoài sự trao đổi trong nhóm.

Giới hạn về kiến thức đấu tranh của thế giới: Khi vừa bị cô lập, vừa sống trong môi trường bưng bít thông tin, nhiều người lý tưởng ở Việt Nam không có đủ điều kiện để nghiệm thu lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn của các phong trào dân chủ trên thế giới. Từ đó, đa phần không đưa ra được một chính sách toàn diện, lấy dài hạn soi sáng ngắn hạn, lấy ngắn hạn nuôi sống dài hạn. Thay vào đó là những chiến thuật ngắn hạn hay đòi hỏi từng bước.

Vị trí của những thành phần thiểu số lý tưởng trong xã hội: Điểm chung là tất cả đều bị trù dập, cô lập hoặc bị giới hạn trong sự thăng tiến cá nhân. Trừ một vài trường hợp, đa số đều phải giải quyết những khó khăn của cá nhân mình và không có nhiều khả năng để đáp ứng cấp thời nguyện vọng của người dân. Từ đó, họ chưa có đủ hấp lực để thuyết phục và vận động quần chúng tham gia vào những đòi hỏi chính đáng chung. Mọi người dễ nghĩ rằng: thân anh chưa lo xong thì sao lo được thân người khác. Họ bị cô lập khỏi xã hội đang chạy đua vất vả với đồng tiền và lợi nhuận cá nhân.

Tất cả những vấn đề căn bản nêu trên dĩ nhiên cần được khai triển thêm để mọi khó khăn được nhận thức rõ ràng. Có nhận thức được thì mới có thể vượt qua. Canh Tân chỉ xin phép được đưa ra một số nhận định sơ khởi coi như là gợi ý. Nhận thức và giải quyết đòi hỏi trí tuệ và nỗ lực của nhiều người và niềm hy vọng rằng: trước sau gì thì bất kỳ một chế độ nào không đáp ứng được nguyện vọng chung của nhân dân, chế độ đó sẽ phải sụp đổ; và mũi nhọn xung kích để đục thủng cái lỗ ban đầu của mọi bức tường cai trị, khơi mào cho sự đứng lên của những người cùng khổ là một thành phần thiểu số có lý tưởng và theo đuổi lý tưởng đó. Vấn đề còn lại là mau hay chậm? Bao lâu nữa dân tộc ta mới thoát ra khỏi ách độc tài đảng trị vốn là nguyên nhân của đói nghèo và chậm tiến !!! . Phải chăng một Liên Minh Dân Tộc trong đó mọi thành phần lý tưởng có thể vượt qua những khác biệt, giới hạn để cùng nhau gia tăng sức mạnh xuyên phá của mình là giải pháp mở ra một vận hội mới cho đất nước?

Nhóm Chủ trương Canh Tân

Quyển Nhật Kí Đánh Thức Cả Nước (CT16)

Lữ Triệu Phong


Địa danh Đức Phổ không từng gây cho nhiều người một ấn tượng mạnh mẽ nào, cho tới khi hai quyển sổ nhật kí "Những Ngày Rực Lửa" của cố bác sĩ Đặng Thùy Trâm được in thành sách.

Bối cảnh ra đi của chị Đặng Thùy Trâm, theo lời kể của người em là: "Chị tôi hi sinh năm 1970 tại chiến trường Quảng Ngãi. Cống hiến của chị tôi ghi trong hồ sơ đề nghị truy tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì rất đơn sơ: bác sĩ, hi sinh tại chiến trường. Thời gian công tác: năm năm, ba tháng, năm ngày...". Đó, phải chăng cũng là tấm Huy Chương Thanh Xuân đơn sơ dành cho 1920 ngày lửa đạn của một thời lẽ ra phải là huy hoàng tươi đẹp nhất ở một thiếu nữ vừa tốt nghiệp ngành Y?

Ngược lại, việc hoàn trả và phổ biến hai quyển sổ nhỏ bé đó sau 35 năm được trân quý cất giữ, lại nằm trong một bối cảnh tương đối khá đặc biệt, từ ông Frederic Whitehurst, một quân nhân Mỹ. Nguyên nhân của sự dầy công lưu giữ ấy lại càng đặc biệt hơn, là đến từ yêu cầu của ông Nguyễn Trung Hiếu, một thượng sĩ thông dịch viên của quân đội miền Nam. Và khởi đi từ tính nhân bản ở hai người cựu thù địch của tác giả trên chiến trường khốc liệt năm xưa đó, quyển sách "có lửa" ấy đã có dịp ra đời mới đây, chiếm kỉ lục phát hành trên toàn quốc trong hai tháng rồi, về cả số lượng in ấn và tốc độ phổ biến qua suốt nửa thế kỉ nay.

Chị Thùy, từ những ngày quanh Tết Mậu Thân, hẳn chưa từng có ý định viết cho độc giả mai sau. Có lẽ cũng chẳng bao giờ chị thoáng nghĩ tới một kỉ lục phát hành vào ngay thời điểm kỉ niệm 30 năm thống nhất đất nước. Chị viết, chị ghi lại chuyện hàng ngày, trước tiên là cho chính bản thân chị. Một mình. Nên rất thật, rất người. Điểm đầu đã có nhà văn Bảo Ninh trân trọng xiển dương. Điểm sau cũng đã có nhà văn Nguyên Ngọc nhận định sâu sát. Cả hai điểm, gộp chung lại, đã được độc giả cả nước trân quý đón nhận ở mức độ gây cảm giác sửng sốt cho toàn thể Hội Nhà Văn, kèm theo một dấu hỏi khá to về thành quả của những Trại Sáng Tác suốt 30 năm qua. Và biết đâu tác giả của bài thơ Hoan Hô Chiến Sĩ Điện Biên, khi đọc quyển nhật kí của chị Thùy, hẳn đã phải tận tình xấu hổ vì đã miệt mài trau chuốt từ xa những lời ngợi ca sáo rỗng một chiến công hào hùng có thật vào thuở chị Thùy còn ở độ tuổi lớp 6.

Nhà thơ Hữu Loan, khi được hỏi sao chưa làm nhà, đã trả lời "còn bận làm người", như một lời nhắn gửi tới những ai từng tưởng là đã có quyền tước đoạt ở ông quyền sống cho ra người. Học giả Vương Trí Nhàn, khi trả lời phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ về quyển Nhật Kí Đặng Thùy Trâm, đã nhấn mạnh rằng ở đây, chúng ta "không chỉ gặp một chiến công mà còn gặp một con người". Hiếm đến thế sao? Ông nói lên điều này sau khi lãnh đạo đã lên tiếng ca ngợi giá trị tuyên truyền của quyển sách (mà xưa nay vẫn thường được mô tả theo khuôn đúc mẫu mực là "trong thơ có thép"). Ông không thể xa xỉ xiển dương anh hùng tính của một người xả thân vì lý tưởng, lại càng không hề đánh bóng tính hi sinh của nhiều thế hệ, để níu giữ một thời đại "ra ngõ gặp anh hùng", hầu giải quyết nhu cầu gầy lửa cực kỳ cần thiết của thời đại bất nhân vô hậu "ngồi nhà cũng gặp cường quyền tham nhũng" hôm nay. Ông chỉ đơn giản vinh danh người nữ bác sĩ nhân từ và quả cảm đã "tận tụy làm người". Ông đã trang trọng mời Thùy Trâm vào ngồi cùng chiếu trên văn đàn và "nhân đàn" với tác giả bài thơ Hoa Sim bất hủ.

Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, lớn hơn chị Trâm 3 tuổi, có thể được xem là đồng lứa, cũng có cùng mẫu số chung là thấm đẫm tình người trong tác phẩm. Nhạc sĩ Văn Cao bảo "Sơn nó làm nhạc giống như là lấy đồ trong túi ra". Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang cho rằng "tiến trình âm nhạc của Sơn là do một rung động tự phát". Ở trang đầu tập nhạc Kinh Việt Nam (1968), với những bài nhạc: Sao Mắt Mẹ Chưa Vui, Nước Mắt Cho Quê Hương, Ta Ðã Thấy Gì Trong Ðêm Nay, Chờ Nhìn Quê Hương Sáng Chói, Ngày Mai Ðây Bình Yên... tác giả đã ghi rằng đó "là tiếng kêu thương thống thiết, khởi từ một thực trạng máu xương, là lòng mơ ước về một rạng đông cho đêm tối dài lâu này". Đặng Thùy Trâm không khác. Về cách viết. Lẫn nội dung.

Chị Thùy cũng có một khát vọng cháy bỏng tương tự: "niềm hi vọng đã như một ngọn đèn rực sáng trước mắt" (4-8-68). Ánh sáng của buổi rạng đông đó, hay của ngọn đèn trước mắt đó là gì mà người ta có thể chấp nhận "chết chóc hi sinh còn dễ dàng hơn ăn một bữa cơm" (14-7-69)? Không phải đôi ba người. Không phải vài chục hay vài trăm người. "Hàng triệu người như con đã ngã xuống mà chưa hề được hưởng trọn lấy một ngày hạnh phúc" (14-7-69). Chị Thùy không đứng từ xa nhìn vào cuộc chiến và làm thơ hoan hô để động viên thêm người đi B. Chị chỉ cần khẽ với tay là hái được ngay quả chín lý tưởng của cả một thế hệ, ngay tại bìa rừng Đức Phổ: "Con cũng là một trong muôn nghìn người đó, con sống, chiến đấu và nghĩ rằng mình sẽ ngã xuống vì ngày mai của dân tộc...." (14-7-69). Và biết rất rõ rằng trang sử này được "viết bằng xương máu và tuổi xuân của bao người" (23-11-69). Quả là "Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì... ", như anh Sơn đã ghi lại trong bài hát Một Cõi Đi Về. Tất cả, tất cả, "biết bao người đã tình nguyện hiến dâng cả cuộc đời mình vì bốn chữ độc lập, tự do" (4-5-68). Có khi, ngay trên đường đi tới còn phải tự nhắc chính mình: "Hãy nhìn lại đi, bên cạnh Thùy có bao nhiêu đồng chí, bao nhiêu thanh niên đã cống hiến tuổi trẻ của họ cho cách mạng, họ ngã xuống chưa hề được hưởng hạnh phúc" (21-12-68). Có phải ở một tương giao cách cảm nào đó, anh Sơn đã bắt gặp hình ảnh chị Thùy: "Ta thấy em đang ngồi khóc, khi rừng chiều đổ mưa"?

Chị Thùy, em Thuận, anh Khiêm... và nhiều người khác nữa. Chưa được nhìn thấy ngày mai của dân tộc. Chưa được nếm thử mùi vị của bốn chữ độc lập, tự do. Âu cũng là may cho họ, nhờ chưa phải chứng kiến một ngày mai của dân tộc trong đó các Mẹ Anh Hùng đã an hưởng hòa bình:

Mẹ nghiêng vò gạo vét không còn
Ôi! Miệng vò hun hút hố bom
Chẳng cả con mèo mà nói chuyện
Để cho dịu bớt nỗi cô đơn...
Tiền tử tuất món tiền nhỏ bé
Mẹ năm con như mẹ một con
Mẹ thương các con thường tiếp khách
Lương mẹ ngang mấy hộp bia lon? (Xuân Miễn)

Còn mọi người quanh Mẹ? Ôi, những cuộc đời...

Mưa xối, nắng thiêu
Đêm trong, ngày đục
Thác bỗng dựng ở nơi không gấp khúc
Bợt bạt mặt người trong cơn giông (Hoàng Trần Cương)

Ôi, những mảnh đời... "tiến thoái lưỡng nan", đến phải thường xuyên tự nhủ


Đừng tuyệt vọng, tôi ơi, đừng tuyệt vọng! (Trịnh Công Sơn).

Không khác lời tiên tri của chị Thùy cho lãnh đạo nói với cả nước: "Hãy lấy niềm tự hào mà quên đi thất vọng" (12-4-68). Lớn nhất, chính là nỗi thất vọng bởi một phản bội rõ to, rõ đậm, rõ dài, ngay trên bốn chữ Độc Lập Tự Do bị che lấp bởi cái bóng của đàn anh Quốc Tế Cộng Sản:

Ta không phải vì ta ba chục triệu người.
Mà vì ba ngàn triệu trên đời. (Tố Hữu)

Và còn ngập ngụa biết mấy với bọn em út đảng viên, những kẻ:

Tiêu máu của dân như tiêu giấy bạc giả.... (Phùng Quán)

Những tên phỗng đứng đời xưa ấy
Gạo thịt cơm thừa đổ xuống sông
Nhìn người mẹ đói đau đứt ruột
Mặt trời vàng úa biết còn không? (Hoàng Vũ Thuật)

Không phải mới ló mặt hôm nay. Chính chị Thùy đã nhận diện tiền thân bọn này từ thời còn lặn lội trong bưng: "Vẫn có những con sâu, con mọt đang gặm dần danh dự của Đảng, những con sâu mọt ấy nếu không bị diệt đi nó sẽ đục khoét dần lòng tin yêu với Đảng" (25-5-68)... "Ngày từng ngày máu vẫn rơi, xương vẫn đổ. Điều đáng buồn nhất là trong những hi sinh gian khổ ấy, Th. chưa thấy được sự công bằng, sự trung thực. Chưa có một sự đấu tranh để thắng được những cái ti tiện, đớn hèn cứ xảy ra làm sứt mẻ danh dự của hai chữ đảng viên" (15-6-68).

35 năm sau những dòng chữ đó của chị Thùy, nhà văn Dương Thu Hương đã lặp lại nhiều lần chữ Ti Tiện riêng dành cho toàn bộ lãnh đạo CSVN, trước ống kính phỏng vấn của đài truyền hình ABC (Úc), ngay giữa lòng Hà Nội. Những khát vọng trẻ đã tự bao giờ biến thành những tuyệt vọng già, phất phơ trước những đỉnh cao vô trách nhiệm?

Ta đã thấy những vết lồi vết lõm trên mặt trăng sao
Những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao (Việt Phương)

Từ đó, liệu có dư thừa (hoặc sẽ tạo phản cảm không) những công sức đánh bóng khía cạnh anh hùng của một Đặng Thùy Trâm từng bị phản bội ngay trên chiến trường Đức Phổ, kéo dài cho tới thị trường có định hướng hiện nay? "Không có cách nào giải quyết khác hơn là mình vẫn phải ở lại cùng anh em thương binh. Buồn cười thay đồng chí chính trị viên của bệnh xá từ chối không dám ở lại cùng mình trong tình huống này. Vậy đó, lửa thử vàng gian nan thử sức" (16-6-70). Khó cười được nữa rồi: "Một ngày, hai ngày... rồi chín ngày đã trôi đi mọi người vẫn không trở lại! Những câu hỏi cứ xoáy trong đầu óc mình và những người ở lại. Vì sao? Lý do vì sao mà không ai trở lại? Có khó khăn gì? Không lẽ nào mọi người lại đành đoạn bỏ bọn mình trong cảnh này sao?" (20-6-70). Đó là dòng chữ cuối cùng của chị Thùy, cô độc tận cùng trên tuyến đầu Đức Phổ, trước sự đớn hèn của lãnh đạo và đồng đội. Hai ngày sau, chị Thùy hi sinh.

Cũng từ đó, một con đường hay một bệnh xá mang tên chị Thùy có lẽ chưa đủ tầm nhân bản như khát vọng vô bờ nhưng rất đỗi bình dị của chị. Hãy đưa tên chị vào tận Quốc Hội, cùng với câu chất vấn của chị từ giữa năm 1968 tới giờ vẫn chưa được trả lời: "Tại sao vậy hở tất cả mọi người? Tại sao khi ta là kẻ đúng, khi ta là số đông mà không đấu tranh được với một số nhỏ, để số người đó gây khó khăn trở ngại cho tập thể?" (29-5-68).

Bàn cờ thế sự quân không động
Mà thấy quanh mình nổi bão giông (Khương Hữu Dụng)

Tại sao vậy, hỡi đồng bào cả nước?
Đã tỉnh giấc chưa, hỡi tuổi trẻ cả nước?

* Những chữ in nghiêng trong ngoặc được trích từ nhật kí của chị Thùy

Nhận Diện Xã Hội Việt Nam Hôm Nay - Qua Giáo Dục (CT16)

Lê Bình An


Với sự hiểu biết và kinh nghiệm của riêng tôi thì trên thế gian này không có một quốc gia nào còn có nền giáo dục lộn xộn và ít tính giáo dục như nền giáo dục Việt Nam. Khi tôi hiểu tuyên truyền là được phép nói láo cũng là lúc tôi thấy mình đã bị nhiễm bệnh. Căn bệnh của một nền giáo dục sai trái. Nếu có ai đó bảo rằng chúng ta đang thành công trong giáo dục, thường được giải cao trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế, tôi tự nghĩ, chúng ta lẽ ra còn được nhiều hơn thế nữa. Dân tộc ta là một dân tộc khá tinh anh. Người Việt Nam nhạy cảm và linh hoạt. Tuy nhiên, cũng chính sự nhạy cảm và linh hoạt này làm cho ranh giới giữa cái đúng và cái sai trở nên khó định. Chính sự linh hoạt của dân tộc đã làm cho nhiều triều đại trong lịch sử tưởng như vững chắc chợt bàng hoàng vì sự sụp đổ nhanh chóng. Nhưng nhiều ưu điểm của dân tộc ta đã bị một số người lợi dụng để truyền bá những tri thức sai lầm và phi khoa học.

Tôi không nằm trong số nhiều thế hệ là hậu quả của cải cách giáo dục. Nhưng hàng triệu trẻ em VN, đằng đẵng 20 năm, là vật thí nghiệm. Đầu tiên là cải cách chữ viết. Trong khi các giáo viên đại học gào lên phê phán Socrat là chủ quan siêu hình khi ông cho rằng vẻ đẹp không phải trên đôi má hồng của người thiếu phụ mà nằm trong đôi mắt của kẻ si tình, thì mặt khác các nhà giáo dục XHCN có đôi mắt lác từ sâu thẳm tư tưởng ngó nghiêng và xác nhận rằng bộ chữ thô lậu, khô cứng là đẹp, là uyển chuyển và vĩ đại. Thế là học trò được đưa ra thí nghiệm. 20 năm trôi qua, những giá trị tốt đẹp trong bộ chữ ban đầu đã được trả lại nhưng nhiều thế hệ học trò thì không thay thế được. Văn hoá cần có gốc và chữ viết là một nền tảng lớn của văn hoá. Đặt trên nền tảng không tốt tức là đã tạo cho con em một tương lai khó nhọc hơn.
Khi tốt nghiệp cấp II là lúc những thế hệ học trò của chúng ta bước vào phân ban. Những tư tưởng chắp vá của một thời được khơi mào trở lại. Sự suy nghĩ không nghiêm túc và dài hơi cho một chương trình đã tan vỡ trên toàn bộ quốc gia sau hơn 6 năm thực hiện. Hậu quả là học sinh gánh chịu. Kiến thức cơ bản của học sinh bị thiên lệch trầm trọng là hệ quả tất yếu của phân ban. Tiếp sau phân ban là vào đại học với chương trình chuyển giai đoạn. Bởi ý chí của một người, một nhóm người mà sinh viên tiếp tục tiếp nhận những quy trình đào tạo phi khoa học. Cái phi lý thì cũng đến lúc phải chấm dứt. Thế là không còn đào tạo 2 bậc nữa. Mọi việc vẫn nguyên và những chiếc ghế tiếp tục được nâng cao. Duy chỉ có sinh viên là thiệt. Nhiều sinh viên bơ vơ sau khi không chuyển tiếp được vào giai đoạn 2. Sau 2 năm đại học họ ra về với vốn kiến thức cơ bản là triết học Mác – Lê nin và nhiều bài học quân sự. Mớ kiến thức bị chối bỏ khắp thế giới đó tiếp tục đeo đẳng, là tỳ vết trong phương pháp tư duy, ảnh hưởng xấu suốt cả cuộc đời của họ.

Những nhà giáo dục Việt Nam đi những bước mù quáng tiếp theo khi quyết định nhập trường, tách trường Đại học. Quyết định chính trị này tạo ra vô số cái ghế mới và đánh đổ nhiều chiếc ghế cũ. Sự giằng xé quyền lực của các nhà giáo dục đã đẩy đưa rất nhiều thế hệ sinh viên vào những bước dở dang của cuộc đời và tạo ra sự lộn xộn và bất ổn ngay trong việc lĩnh hội kiến thức và tên gọi của bằng cấp. Đây là những quyết định hết sức nóng vội và sai lầm. Nó cũng giống như việc quyết định địa điểm thi đại học. Gần 15 năm trước đây đã tổ chức thi cụm rồi một thời gian sau lại tổ chức thi ở thành phố, cuối cùng lại tiến hành tổ chức phân chia ra thành nhiều cụm. Người chịu thiệt hại trong suốt những năm qua không ai khác là nhân dân. Không dừng lại đó. Các nhà chính trị làm giáo dục còn làm ngơ trước những sai phạm của các trường bán công, dân lập rồi sau đó can thiệp một cách thô bạo và xấc xược để tiếm quyền và chiếm đoạt các giá trị vật chất. Gian trá và xảo quyệt là cách mà họ hành động. Người chịu thiệt cuối cùng là học sinh, sinh viên, những công dân tương lai của đất nước Việt Nam thân yêu này. Hàng loạt loại hình đào tạo mới được mở ra một cách vô tội vạ: nào là tại chức, chuyên tu, từ xa, ngắn hạn, ngoài giờ… Đó là những thị trường béo bở cho các giáo viên và học viên bất lương. Họ trao đổi, chạy chọt, mua bán ì xèo.

Hình thức chỉ là biểu hiện nội dung, còn nội dung mới là điều quan trọng. Nội dung giáo dục của VN trong giai đoạn hiện tại là hết sức tai hại. Quả thật, nhiều Phó tiến sỹ sau một đêm đã thấy mình là tiến sỹ. Trước đó chỉ 6 tháng hoặc 1 năm thì những người đó đang là cử nhân. Sự tồn tại trong vòng 5 năm của phương thức đào tạo tiến sỹ ngắn hạn cũng đã đủ cho nhiều ngàn người trở thành phó tiến sỹ trước khi trở thành tiến sỹ sau một đêm. Rất nhiều người trong số tiến sỹ hôm nay là kẻ chi tiền cho những người khác viết thuê. Cho tới bây giờ nạn mua bán bằng cấp, học vị, giấy tờ giả vẫn tràn lan khắp nơi và ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Những lớp học cao học thưa thớt, lười nhác và mệt mỏi. Nghiên cứu sinh thì chủ yếu đem quà đến để nói chuyện phiếm với những người hướng dẫn. Dù cho phản biện kín nhưng sự gặp gỡ hằng ngày và thái độ thoả hiệp, xuê xoa giữa các thành viên hội đồng vẫn cho phép hầu hết những công trình vô nghĩa được đánh giá rất cao. Những công trình vô dụng đó ngày một chồng chất mốc meo trong các thư viện, và tiền túi những người hướng dẫn và phản biện ngày một nhiều thêm. Tiền đi đút lót của những người làm tiến sỹ là tiền có được từ những thành phần thấp kém hơn trong xã hội. Đại bộ phận số tiền để quan chức “làm” bằng cấp giả hoặc bằng cấp thật mà kiến thức giả là đến từ những người dân nghèo không có cơ hội được đi học.

Trường học, đặc biệt là trường đại học, đã biến thành chợ. Nơi đó hàng hoá là con điểm chứ không phải là kiến thức. Thầy giáo vốn là tầng lớp được kính trọng trong xã hội, phải bán từng con điểm để nuôi vợ con đang đói kém. Điều đó là tất yếu khi tri thức của họ bị bóc lột thậm tệ qua đồng lương chết đói. Chưa kể nhiều kẻ trong số họ trước đây hoặc đã phải trả giá bằng tiền để có bảng điểm cao, có bằng tốt nghiệp hoặc đã phải lo lót cho một chức danh giảng dạy. Học sinh lười học, chán nản và bế tắc. Những phương pháp giảng dạy khoa học và hiện đại đã quá cũ trên bàn làm việc và trong các cuộc hội thảo, nhưng vẫn còn quá mới nơi giảng đường. Mặc dầu vậy, người ta vẫn đổ xô đi thi, đi học, đặc biệt là đại học. Miễn là lấy cái bằng, cho qua một gạnh đầu dòng trong cơ cấu cán bộ. Xã hội ta là xã hội trọng bằng cấp và rất nhiều người đang cầm mảnh bằng bằng giấy chứ không phải kiến thức để xây dựng cơ nghiệp của mình.

Nguồn gốc căn bản của sự suy đồi trong giáo dục VN hôm nay có lẽ là hệ thống các trường Đảng. Bởi vì ở đó người ta vẫn dạy những điều không có thật, dạy những điều giả dối. Sự bế tắc hoàn toàn về lý luận của hệ thống trường đảng là sự thật 100%. Những biểu hiện lai căng, gán ghép cho cái sai chỉ làm tồi tệ hơn những cái sai đã có sẵn. Thế mà người ta vẫn dạy, vẫn nói những điều dang dở, vòng vo. Giáo dục là để cho người học biết đường mà đi, biết tạo lập cho mình một đường băng, chạy chậm, chạy nhanh rồi cất cánh. Giáo dục là sự học tập và nhận thức cái đúng để biết hiện tại và hoạch định tương lai. Nhưng giáo dục ở đây là sự dối lừa. Sự lừa dối lại được đem đi giảng dạy cho lãnh đạo của Nhân dân trong đó có lãnh đạo của ngành giáo dục.

Trẻ em bị đè cổ ra bắt học với những khối lượng kiến thức đồ xộ trong khi đó bậc cao học và tiến sỹ có thể đi chơi. Đây là điều phi lý tôi chưa thấy ở một quốc gia nào. Trong khi đáng lẽ học sinh tiểu học có thể vừa chơi vừa học thì phải gánh một lượng kiến thức khổng lồ. Càng học cao người học càng nhàn. Chăm thì cũng vậy thôi, phao-là vật để làm nổi mình lên. Học sinh trung học quấn quanh người và cẳng chân như những chùm đạn của binh lính sắp sửa vào trận đấu. Công an Phường Bách Khoa phải làm việc căng thẳng và bận rộn suốt những tháng thi đại học vẫn không dẹp bỏ được những chợ phao bày bán công khai. Nhưng cái phao quyền lực chính trị và tiền tài phía sau bài thi mới nhiều và thực sự hiệu quả. Nó làm nổi bật cả những học sinh dốt nát mà cũng không biết bơi. Bậc đại học và Cao học, người ta còn trải sách giáo khoa lên bàn mà chép. Tất cả đều chép y hệt như sách, còn điểm thì tuỳ mức độ ngoại giao, tỷ lệ thuận với những lần viếng thăm nhà riêng thầy giáo.

Chất lượng giảng dạy và cách thức phân bổ thời lượng giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng là điều đáng lo ngại. Có thể nói tất cả sinh viên đều phải học tập 3 môn vô bổ với một thời lượng rất lớn: Đó là Triết học Mác-Lê nin, Kinh tế chính trị học Mác - Lê Nin và Chủ nghĩa cộng sản khoa học. Để khẳng định triết học Mác- Lê nin là đúng, người ta đành phải phê phán hết tất cả những người không theo Mác. Vì vậy, nếu như sinh viên có biết các triết gia khác thì chỉ biết những điều xấu. Ngoài ra học sinh, sinh viên còn phải dành rất nhiều thời gian học tập quân sự, học chính trị, học nghị quyết. Tất cả đều quá đáng một cách không thể chịu nổi.

Thế rồi với mớ kiến thức hổ lốn, không chuyên sâu, không thành thục đó, họ ra trường và gia nhập vào đội quân thất nghiệp. Số sinh viên ra trường có công việc ngay chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Phần còn lại làm trái nghề hoặc thất nghiệp. Rất nhiều khi, trên những nẻo đường tôi đi, văng vẳng tiếng kêu của những thanh niên thất nghiệp ngộ chữ lẩm bẩm: “duy vật với vô thần”. Mác với Lê Nin. Thực ra giáo mác đã lạc hậu, han gỉ và đã bị vứt đi rồi. Nó không có gì to tát cao siêu. Nó không đáng cho hàng triệu, hàng triệu, lớp lớp sinh viên học sinh phải học, phải đọc, phải làm theo. Đất nước mình còn nghèo, nhân dân mình còn đói ăn, còn mất tự do. Đó mới là điều Nhân dân cần học, cần biết và cần hành động để cứu nguy dân tộc. Nhân dân cũng cần biết rằng nguyên nhân của mọi nguyên nhân là sự độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đã đến lúc cần phải thay đổi, Hỡi người dân Việt Nam, hãy vì một nền giáo dục lành mạnh và tốt đẹp hơn, hãy tôn trọng các ý kiến khác biệt – Chuyển đất nước đến Dân chủ - Đa nguyên. Hãy bắt đầu bằng giáo dục.

05 tháng 8, 2005

Hai Quốc Nhục, Năm Quốc Nạn (CT15)

Giữa giòng ý kiến ngoài luồng đang cuồn cuộn dâng lên trước ngưỡng cửa đại hội 10 đảng CSVN vào năm tới, người ta thấy bật lên một bức thư khá đặc biệt, ký tên nhóm cán bộ lão thành cách mạng và cán bộ tiền khởi nghĩa ở Trung ương và Hà Nội.

Chưa gửi ra bức thư, những người viết đã biết số phận của nó cũng sẽ chẳng hơn gì những "phát biểu với ý thức công dân rất cao" như của các ông: Trần Văn Hà, Phan Ðình Diệu, Lê Ðăng Doanh, Lê Tiến, Trần Quốc Thuận, Ðặng Quốc Bảo, v.v... trong những tháng gần đây. Nghĩa là bức thư này cũng sẽ chỉ nằm dưới đáy một chồng thư tương tự chờ ngày ra bãi rác. Thế mà các cán bộ lão thành này vẫn viết và vẫn gửi. Phải chăng vì muốn nói với những đồng bào thân thương của họ là chính, nói với những người còn biết đau trước số phận của dân tộc ?

Theo những cán bộ lão thành cách mạng này thì đã đến lúc người Việt Nam không thể làm ngơ hay tiếp tục để cho Nhà nước che mắt, mà phải nhìn thẳng vào 2 quốc nhục và 5 quốc nạn, đang kéo oằn sức sống dân ta xuống tận bùn đất.

Quốc nhục thứ nhất là nước ta vẫn thuộc loại nước nghèo khổ và lạc hậu nhất thế giới. Từ một nền kinh tế miền Nam dẫn trước cả Hàn Quốc vào năm 1975, lãnh đạo đảng đã phá hủy toàn bộ để xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa để rồi sau 3 thập niên đất nước mới chỉ bắt đầu loay hoay xây dựng lại. Nhưng dù sao thì đó cũng là lỗi lầm của quá khứ. Câu hỏi quan trọng hơn là liệu lãnh đạo có từ bỏ con đường cũ để tiến lên hay không? Thật đáng buồn và đáng lo khi người ta chỉ thấy một đảng duy nhất vẫn nhất định ôm chặt quyền lực, ôm lấy con đường chủ nghĩa Mác-Lênin, và tiếp tục thái độ không chấp nhận và không nghe ai ngoài nhóm người trong Bộ Chính trị về những lời giải cho đất nước. Khi đã biết hướng đi trong 30 năm qua không phải là con đường đưa đất nước đi lên mà chỉ giật lùi so với láng giềng, thì ngày nay, dù Ðảng có quyết định đi nhanh hơn hay chậm lại nhưng vẫn giữ theo định hướng XHCN, thì đất nước này sẽ vẫn tiếp tục rớt lại xa hơn so với các nước trong vùng.

Quốc nhục thứ hai của dân tộc, vẫn theo các nhà lão thành cách mạng, là một đất nước Việt Nam bị xếp ngang hàng với 5 nước có nạn tham nhũng tràn lan và tệ hại nhất thế giới. Nhiều chuyên gia thế giới trong ngành kinh tế và quản trị vĩ mô đã được mời đến để tìm biện pháp khả dĩ đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng hiện nay, nhưng cho đến nay, tất cả đều lắc đầu bó tay. Không một nước độc lập nào trên thế giới có khả năng thoát ra khỏi tình trạng tham nhũng trầm trọng mà không trông nhờ vào sự vận hành biệt lập 3 quyền Hành Pháp, Lập Pháp, và Tư Pháp. Tại Việt Nam cả 3 quyền này đều chỉ là lớp sơn bên ngoài của " Ðảng quyền".

Cùng lúc với 2 quốc nhục đối với thế giới bên ngoài, người dân VN đang khổ sở vì 5 quốc nạn:

(1) Quốc nạn quan liêu, lãng phí, hình thức trong bộ máy đồ sộ các cấp của Ðảng, Nhà Nước, Mặt trận Tổ quốc.... và nạn xa hoa lãng phí tiêu xài của các quan chức càng làm khổ thêm những người dân nghèo đói, không còn sức với tới các dịch vụ công cộng, y tế, giáo dục..v.v...

(2) Quốc nạn phá hủy môi trường sống, phá rừng liên tục, trầm trọng hơn cả trong thời chiến tranh và lệ thuộc ngoại bang. Nạn nhân của tình trạng này vẫn là những người dân nghèo khổ sống nhờ vào ruộng đất, sông hồ.

(3) Quốc nạn giao thông chết người và thương tích hàng ngày nhiều nhất thế giới. Một biểu hiện của loại xã hội không còn ý thức luật lệ. Nói cách khác: luật lệ đã bị thay bằng "tiền lệ".

(4) Quốc nạn khủng hoảng trong ngành giáo dục, ngoài học sinh nay còn có cả thầy cô và cán bộ tham gia vào đủ loại gian lận, từ bán đề thi, sửa điểm đậu đến mua bán bằng cấp các loại.

(5) Quốc nạn mãi dâm, ma tuý, Si-đa, và nhiều tệ nạn xã hội khác. Ðạo đức, văn hóa, nhân cách, tình người đang mất dần trên toàn quốc.

Cả 5 quốc nạn này là bằng chứng hùng hồn về khả năng tự chữa trị của Ðảng. Mỗi năm trôi qua, từng quốc nạn này chỉ càng thêm trầm trọng. Và khó ai biết được tình trạng bệnh hoạn hiện nay sẽ còn sản sinh những quốc nạn nào nữa trong những năm tháng trước mặt.

Dù nhìn từ góc độ nào đi nữa, không ai có thể phủ nhận cả 2 quốc nhục và 5 quốc nạn kể trên đều phát xuất từ một quốc sách -- đó là "Ðộc đảng nắm quyền, độc tài cai trị". Câu hỏi còn lại là phải bắt đầu chữa căn bệnh VN từ đâu?

Thư Phương Nam Gởi Một Bạn Sinh Viên Hà Nội (CT15)

Phương Nam - Đỗ Nam Hải


Thân gửi Hải Yến và các bạn của Hải Yến,

Nhận được thư của Hải Yến và các bạn gửi đã lâu, nhưng vì bận việc nên hôm nay anh mới viết thư trả lời được. Mong Hải Yến và các bạn thông cảm về sự chậm trễ này nhé. Anh cũng rất cảm ơn Hải Yến và các bạn đã gửi cho anh món quà có giá trị về cả vật chất lẫn tinh thần trên. Điều đó đã động viên anh rất nhiều trong giai đọan khó khăn hiện nay của mình.

Anh hoàn toàn đồng ý với nhận xét của Hải Yến và các bạn rằng: “thiên đường” Mác - Lênin hiện nay đã quá lỗi thời rồi và đảng cộng sản Việt Nam chỉ dùng nó để nhồi sọ, ru ngủ thanh niên mà thôi. Điều này đã được chứng minh một cách hùng hồn qua thực tiễn lịch sử: Nếu đem so sánh với những nước có điều kiện, hoàn cảnh tương tự nhau, thì rõ ràng tất cả những nước nào vô phúc mà lao đầu vào cái “con đường Mác-Lênin” kia đều đã “thân tàn, ma dại” cả.

Trong một bức Thư Ngỏ gửi nhân dân Việt Nam và gửi Hội nghị TƯĐCS VN lần thứ 12 (khóa 9), vào ngày 15/6/2005 vừa qua, các cụ cách mạng lão thành tại Hà Nội đã tổng kết rằng: Dân tộc ta đang phải sống với 2 mối quốc nhục và 5 quốc nạn. Trong đó, 2 mối quốc nhục là nghèo khổtham nhũng đều thuộc vào hạng nhất trên thế giới.

Hải Yến và các bạn thân mến, để tìm được lối ra cho dân tộc ta hôm nay thì theo anh, cần phải xác định cho đầy đủ và chính xác Vấn đề của mọi vấn đề, nguyên nhân của mọi nguyên nhân nào đã gây ra 2 mối quốc nhục và 5 quốc nạn trên. Còn nếu chỉ loay hoay đi tìm những nguyên nhân nửa vời thì tất nhiên các giải pháp cũng nửa vời theo, và đất nước do vậy vẫn không tìm được lối ra cho tử tế. Để rồi, dân tộc Việt Nam anh hùng và thông minh này sẽ vẫn cứ hiển hiện nguy cơ chìm đắm trong kiếp nô lệ. Có khác chăng là: Kiếp nô lệ của dân tộc trong thế kỷ 21 này, với mỹ từ “nhân dân làm chủ” đã đánh lừa được một bộ phận nhân dân (trong đó có cả một bộ phận không nhỏ thuộc giới trí thức), so với kiếp nô lệ dưới ách thực dân, phong kiến của thế kỷ thứ 19, 20 vừa qua mà thôi.

Trong khuôn khổ giới hạn của một bức thư thì không thể nói được nhiều. Nhưng theo anh, như ở phần cuối của bài Viết tiếp về nhận thức lại (8/2001), anh viết: “… Muốn chống bất công, đói nghèo, tụt hậu, muốn hoàn thành những mục tiêu của một nước Việt Nam mới, nhằm hòa nhập được tốt vào thế giới hiện đại; ngoài con đường dân chủ, đa nguyên, đa đảng và pháp trị, nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác!”

Dĩ nhiên, anh hiểu rằng những kẻ bảo thủ trong đảng CSVN sẽ không bao giờ tự giác chấp nhận con đường trên. Bởi một lẽ đơn giản là từ trước đến nay, họ luôn luôn đặt quyền lợi của họ lên trên quyền lợi của dân tộc. Thông qua bộ máy chuyên chính vô sản và hệ thống thông tin độc quyền của mình; họ luôn tìm mọi cách để nặn ra những điều ngụy biện, dối trá và những con ngáo ộp hòng hù dọa nhân dân,… Còn về thực chất, họ không bao giờ muốn chấp nhận một sự cạnh tranh bình đẳng trên chính trường. Điều này cũng tương tự như trong kinh tế: các doanh nghiệp độc quyền không bao giờ muốn chủ động chia sẻ ưu thế ấy cho bất cứ một doanh nghiệp nào khác. Mặc dù họ vẫn thừa biết rằng nếu có sự cạnh tranh như vậy sẽ hoàn toàn có lợi cho nhân dân, cho khách hàng.

Nhưng anh tin rằng, sức ép của dân tộc và của thời đại đang tăng lên ngày càng mạnh mẽ sẽ có tác động trực tiếp đánh thẳng vào giai cấp cầm quyền bảo thủ hiện nay. Và một khi sức ép kia đủ mạnh thì dù muốn hay không họ cũng buộc phải thay đổi, nếu như họ không muốn phải hứng chịu đòn trừng phạt của nhân dân. Giai đoạn hiện nay là giai đoạn mà những kẻ bảo thủ trong đảng CSVN không thể cai trị nhân dân như trước được nữa, và đại bộ phận nhân dân cũng không chấp nhận sự cai trị của họ như trước nữa. Sự vô cảm, thờ ơ, bàng quan,… với hiện tình đau thương của đất nước trước đây của tầng lớp trung lưu trong xã hội đang tan dần, thay vào đó là bắt đầu sự chấp nhận nhập cuộc của họ. Điều này báo hiệu thời cơ của một cuộc Cách Mạng Xã Hội đang đến gần.

Một tương lai tươi sáng của dân tộc đang mở ra. Chế độ chính trị phản dân chủ và phản dân tộc hiện nay chắc chắn sẽ là chế độ độc tài cuối cùng trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Cái gọi là “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa long trời, lở đất” ở Việt Nam nhất định sẽ phải thôi gào thét, để nhường chỗ cho một xã hội dân sự và pháp trị, lấy quyền sở hữu tư nhân làm nền tảng. Anh hy vọng rằng Hải Yến và các bạn, với nhiệt tình và khả năng của mình sẽ góp phần không nhỏ vào sự thay thế đó.

Về phần mình, cho dù hiện nay anh vẫn đang tiếp tục bị chính quyền bao vây về kinh tế, cuộc sống tinh thần của bản thân và gia đình anh vẫn luôn bị khủng bố, v.v… Nhưng anh không vì thế mà nao núng hoặc sợ hãi. Suy rộng hơn nữa chúng ta cũng thấy: Phong trào dân chủ VN nói chung và những người dân chủ VN nói riêng, dẫu có phải trải qua sự đàn áp tàn bạo và sự chia rẽ thâm độc của giai cấp cầm quyền đến đâu đi chăng nữa, thì nó vẫn cứ không ngừng tiến lên! Sự mất mát, hy sinh của những cá nhân không quan trọng bằng sự trường sinh của cả dân tộc! Và sự mất mát, hy sinh ấy là rất cần thiết. Đất nước và dân tộc rồi sẽ đời đời ghi nhớ công lao to lớn ấy của họ.

Anh cũng tin là sẽ đến lúc chính quyền VN, thông qua bộ máy chuyên chính vô sản của họ phải giác ngộ ra rằng: giống như các cuộc Cách Mạng Nhung, Cách Mạng Cam, Cách Mạng Hoa Hồng,… của các nước Đông Âu, Liên Xô vừa qua, hễ chính quyền càng đàn áp nguyện vọng thiết tha đòi dân chủ của nhân dân hung hãn bao nhiêu thì tội ác của họ lại càng thêm nặng bấy nhiêu. Để rồi, sẽ có một ngày, với tiếng thét ầm vang của nhân dân phẫn nộ họ sẽ phải đối diện trước công lý, khi các dân tộc ấy chuyển mình.

Con đường sáng nhất để các thế lực bảo thủ đang nắm thực quyền trong ĐCSVN lựa chọn lúc này là: Hãy đối thọai một cách thực lòng với nhân dân! Hãy đối thọai một cách thực lòng với những nhà dân chủ VN! Để từ đó tìm ra phương án tốt nhất cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Chúng ta không sợ đất nước không có những phương án đúng để xây dựng và phát triển, mà chỉ sợ đường đi của cả dân tộc bị chọn sai! Dân tộc ta hôm qua đã chọn sai đường, thì hôm nay cả dân tộc ấy hãy dũng cảm vượt qua chính mình để chọn lại đường đi cho đúng. Còn một khi chính quyền cứ loanh quanh tìm cách câu giờ, nhằm khước từ đổi mới chính trị hoặc cứ chơi trò đổi mới theo kiểu nửa vời như hiện nay, thì họ chỉ tiếp tục dẫn dắt dân tộc này đi vào ngõ cụt mà thôi. Và cái kiếp nô lệ của dân tộc ta, những tưởng rằng đã thoát ra được từ 60 năm trước thì nay vẫn là còn nguyên. Đó là điều khẳng định.

Để kết luận, anh muốn được một lần nữa nhắc lại cùng Hải Yến và các bạn của Hải Yến câu nói của nhà cách mạng nổi tiếng Nguyễn An Ninh (1900 – 1943): “Tự do không thể van xin mà được. Tự do phải giành lấy mới có!”

Nhận Diện Xã Hội Việt Nam Hôm Nay - Qua Đạo Đức Giả (CT15)

Lê Bình An


Dung là một em bé 3 tuổi, gác đầu lên đùi người anh 5 tuổi, hai đứa nằm dài bất động, giả chết trước cổng chùa Quán Sứ – Hà Nội. Người mẹ già cong queo như một con tôm, đầu gục xuống, ngậm lấy đất và bụi đường cất tiếng khóc não nề. Bà khóc giả tiếng khóc của 2 con đã chết. Tiếng khóc của bà mẹ Việt Nam, nay bị đem đi làm giả, cũng khổ đau, tức tưởi. Dù nhiều người biết đó là giả, họ vẫn bỏ tiền vào chiếc mũ vải bên cạnh. Còn gì khủng khiếp và đau đớn hơn khi chính những công dân Việt Nam lương thiện, thật thà hôm nao nay giả chết để kiếm sống trước khi chết thật trong đói khổ, hờn căm. Bên cạnh gia đình Dung là vô số kẻ khác bó chân, tay trong những tấm vải màn trắng, bôi một ít thuốc đỏ giả làm máu để gây lòng thương cảm của các phật tử. Hầu hết mọi người biết đó là giả. Thế nhưng những tiếng khóc ré lên đầy thương cảm của các trẻ thơ là thật vì đang bị anh hoặc chị dùng đinh đâm dưới mông. Điều này rất ít người phát hiện. Những em bé 1,2 tuổi đầu ngặt nghẽo và đau đớn một cách thực sự, người chị cũng giả vờ ngất ngư. Có những đứa trẻ bị đưa đi làm thuê việc đó. Trên những con đường nhỏ bé và thân thương của Hà Nội thỉnh thoảng ta thấy có cháu bé ngoắc dây vào cổ một ông già rồi kéo trượt đi trên một tấm gỗ có gắn bánh xe. Mặc cho da thịt cọ xát dưới lòng đường và quần áo tả tơi đói khổ, không nhiều người bỏ tiền vào chiếc mũ đứa bé chìa ra vì mọi người đều hiểu đó là giả. Đó là kiểu đạo đức giả của những người bần cùng nhất trong xã hội Việt Nam hôm nay.

Dân tộc Việt Nam, dân tộc của nhiều ngàn năm lịch sử miệt mài với nền văn minh lúa nước chân chất, giản đơn, nay đang tự hủy chính mình. Người ta nhìn nhau bằng con mắt nghi kỵ, oán hờn. Việc giúp nhau xách đồ đạc đã trở thành xa lạ, quê kệch. Hầu hết những người được yêu cầu giúp đỡ từ chối lời đề nghị hoặc chấp nhận trong lo âu. Sự lo sợ của họ là có lý. Trộm cướp, lừa gạt, giật dọc đã trở thành nếp. Đi đâu giữa thành phố này chúng ta cũng thấy khóa và ống khóa. Những ngôi nhà càng to, càng cao thì càng nhiều khóa. Thép gai không còn dùng trong quân sự mà được làm thành từng đống bùng nhùng vứt lên khoảng không gọi là “giếng trời” trong những ngôi nhà tư phân lô cao tầng của Hà Nội, Sài Gòn. Thay vì chức năng của các khoảng không hút gió là để tạo ra bầu không khí thanh thản và bình an thì lại tạo ra cho những người đang sống cảm giác của địa ngục và tù đày. Thế mà đâu đâu người ta cũng nói về lòng lương thiện, về CNXH với những bầu trời bao la. Đó là lối sống giả của nền đạo đức giả.

Nguyễn Văn Mười khánh thành ngôi nhà 4 tầng của mình trên đường Âu Cơ, Quận Tây Hồ. Tất cả các con đều được dặn rằng đây không phải là nhà mình. Buổi lễ mừng tân gia không có ai trong cơ quan Quận Ủy, Mười chỉ mời những bạn cũ đến chơi. Chủ nhà nở một nụ cười vừa khoe khoang vừa giấu diếm. Gian mà không lận được. Giả dối từ trong tâm tưởng đã trở thành nếp nhăn nơi khóe miệng khi cười. Mười giàu và Mười đau. Đạo đức giả theo nhau chạy vào đứa con 3 tuổi khi cố gắng bập bẹ rằng đây là nhà Ông Bác Họ trong Sài Gòn cho ở nhờ. Bố đang đợi nhà cơ quan phân. Mười chỉ là một trong số hàng ngàn, hàng vạn cán bộ công chức hiện nay muốn mình nội dung là tư sản còn hình thức là vô sản. Bên trong phải giàu và bên ngoài phải nghèo. Đó là đạo đức giả, loại đạo đức giả của các quan chức thời nay.

Đạo đức giả chui vào cơ quan công quyền, luồn lách leo lên giảng đường và lấy đà xuyên thủng tường rào Học viện chính trị quốc gia. Nga là một cô giáo dạy kinh tế chính trị trong Học viện Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2000 bị bắt quả tang vì nhận hối lộ 2 triệu đồng của một phó bí thư Huyện Uỷ thuộc tỉnh Bắc Ninh khi đang thi vấn đáp. Bài thi có tựa đề: “Nêu những cơ sở lý luận để triển khai thực hiện nghị Quyết TW về chống tham nhũng”. Cô và trò đóng kịch trong một môn thi của chương trình cao học. Sự giằng xé lương tâm, nếu còn, của những người cộng sản mới thực là khủng khiếp. Hay là thấy bình yên, vô sự. Hay là ta đã quen rồi. Những đồng tiền bẩn thỉu của tên xã hội đen vô học Năm Cam đã đâm toạc một quốc gia lẽ ra phải được bảo vệ bởi lòng tốt, tính cần cù và kỷ luật. Đi đâu chúng ta cũng thấy cò, thấy bảo kê, những băng đảng và ổ nhóm. Chính quyền thực sự đã rơi vào các tay anh chị và các băng nhóm xã hội đen chỉ biết đâm thuê chém mướn nhưng nhiều tiền. Đó là chính quyền giả. Đó là một kiểu đạo đức chính trị giả.

Họp chi bộ là nơi để người ta thổ lộ những kế hoạch tốt đẹp viển vông nhằm che dấu những điều bỉ ổi, xấu xa hiện tại. Rất ít ý kiến có trách nhiệm được nêu ra. Cơ quan văn hóa tư tưởng là một bộ máy tuyên truyền khổng lồ. Vô khối diễn giả chỉ đi nói những điều không thật để lấy tiền. Họ biết họ đang nói dối và người nghe thì cũng đang nghe giả dối. Họ phải đi nghe để che dấu sự không bằng lòng đã có trong tư tưởng của mình. Tất cả đều là giả tạo. Chiếc loa phóng thanh treo đầu phố nơi Ông giám đốc Trần Mai Hạnh của nó vừa mới phát hiện bị Năm Cam mua đứt đúng một tháng 30 ngày ra rả nói về vẻ đẹp và an ninh tại VN. Thế mà đôi dép hôm qua để trong nhà còn mất. Nam nữ co chân tự tình với nhau tại công viên còn bị những kẻ xấu bôi mình đầy bùn như đặc công trườn vào rình và ăn trộm luôn đôi giày để dưới ghế đá. Hầu hết những nơi hẹn hò yêu thương đều là địa điểm của ma túy và bụi đời với vô khối ống kim tiêm. Không gian để thể hiện tình yêu ở Việt Nam đang bị bóp nghẹt hoặc bị làm giả. E rồi có một ngày tình yêu sẽ chết.

Đạo đức giả bắt đầu hoành hành đến một địa hạt tưởng như bị cấm tuyệt đối: Đó là tầng lớp kinh doanh. Đạo đức kinh doanh được xem là yếu tố quan trọng nhất của doanh nhân. Quyết định sự thành bại của bất cứ doanh nghiệp nào. Thế mà, trong xã hội chúng ta hiện nay, nhiều người làm ăn chân chính bị “đập chết” một cách cay đắng và nhục nhã. Việc tồn tại quá lâu những cối xay ngân sách khổng lồ là các doanh nghiệp Nhà nước cho phép sự giả dối len lỏi và lũng đoạn hoạt động kinh doanh. Sự bóp nghẹt tầng lớp thương gia và hoạt động kinh doanh tư nhân suốt nhiều thập kỷ đã làm thương tín bị xói mòn. Với một hệ thống văn bản quy phạm hết sức nhiêu khê và mâu thuẫn điều chỉnh hoạt động kinh doanh đã nay không cho phép doanh nhân có cơ hội để được làm người lương thiện. Buôn gian bán lận, một cách dã man và khốc liệt, bắt đầu từ những tập đoàn lớn của Nhà nước rồi theo đó lan dần đến những người buôn thúng bán mẹt trong những phiên chợ quê nghèo, đôi lúc họ điêu toa và ngoa ngoắt một cách đầy thương hại.

Trước mặt tôi, trong Chùa Hà, là 2 cô cave vội vàng, loáng quáng khấn vái với những dự định vật chất thầm kín cho đêm nay. Họ đang cần có khách, rất cần một quan chức có nhiều tiền tham nhũng. Tôi thấy họ đáng thương hơn đáng trách. Sau tôi là người đàn bà béo tốt, một phu nhân “mới phát”. Tất nhiên nhiều năm trước không hề có tôn giáo. Bà ta là vợ một quan chức cộng sản và cộng sản coi tôn giáo là kẻ thù thứ 3 của mình sau gia đình và quyền tư hữu. Nhưng sự trống hoác lương tâm là điều không thể được. Vì vậy, người ta đành nhét vào đó một chút đức tin, một phần đĩ điếm, một mảng lưu manh và một ít chân thành. Tất cả điều đó hoà trộn trong nhiều phật tử đến chùa. Nhìn cung cách khấn vái mới thể hiện hết được những điều đạo đức giả. Tôn giáo đang bị làm giả. 42 chiếc chùa giả tại Hương Tích chưa kịp phá hết thì vô số chùa chiền giả nơi khác đã mọc lên. Nhà thờ là lãnh địa riêng của những người chống cộng cũng đang bị tấn công một cách liên tục và ác liệt. Cộng sản với chính sách cài người, vừa đấm vừa xoa và thái độ đạo đức giả đã đàn áp một cách có hệ thống những Cha cố trung thành với La Mã nhất. Đồng thời đã kịp bôi đỏ nhiều vị chức sắc tôn giáo khác của Nhà thờ với những hành vi sa đoạ đến sững sờ. Hoà thượng tại nhiều chùa của Hà Nội là những chiến sỹ công an với quân hàm từ đại uý đến trung tá. Ban ngày mặc áo cà sa niệm Nam Mô còn ban đêm chạy xe phân khối lớn đi uống rượu và tìm gái để hành lạc. Đây là lúc tôn giáo đang bị làm giả. Tôn giáo mà giả tức là đời sống tâm linh ta phá sản. Ôi dân tộc Việt Nam ta !!!

Đạo đức giả ngang ngược chiếm lĩnh công đường. Thay vì nơi thực hành công lý lại là nơi chễm chệ của những lực lượng quyền uy dấu mặt. Lẽ ra đó là nơi bảo vệ luật pháp nhưng lại là nơi bẻ cong luật pháp. Pháp luật vừa thừa vừa thiếu, xét xử thế nào cũng được. Công lý vì vậy mà bị biến tướng, to hay nhỏ, méo hay tròn phụ thuộc vào đồng tiền chạy án. Khi quan tòa được coi là công cụ bị những thế lực đằng sau giật dây; khi kiểm sát là những chiếc loa phóng thanh mà quyền điều chỉnh chiết áp thuộc về những kẻ không bao giờ hiểu thế nào là công tố; khi luật sư không được hành nghề một cách đầy đủ và tự do... thì đó là lúc đất nước lâm nguy. Công lý bị làm giả tức là cái lý chung không còn, hoặc là còn một cách giả dối. Khi lập pháp chắp vá ngổn ngang, hành pháp chủ quan bừa bãi thì tư pháp ruỗng nát tan hoang là một điều không tránh khỏi. Ngay lúc này đây, Nhà nước đang huỷ hoại niềm tin chân thành của chúng ta vào công lý. Những cuộc đấu tố tràn lan trong quá khứ và hiện tại là việc làm tiếp tay xây dựng một khái niệm công lý giả.

Đạo đức giả là một căn bệnh. Đó là một bệnh xấu xa lắm. Khả năng lây nhiễm rất cao và tính hủy diệt là ghê gớm. Môi trường đất nước ta dưới thời cộng sản đã tạo ra nó, động viên nó phát triển và hiện đang bị nó gây ô nhiễm trầm trọng. Khả năng lan tỏa là rất lớn. Lòng tốt và tính chân thành đang ngày một bị dồn đuổi trên quê hương lẽ ra rất thanh bình và nhân văn. Không, hãy thét lên, Vì truyền thống dân tộc, vì tiền đồ ngày mai của gần 80 triệu nhân dân Việt Nam, Vì những giá trị tốt đẹp đã có và sẽ có, Chúng ta hãy cùng nhau diệt trừ bệnh dịch này, hãy phun thuốc trừ sâu, hãy chặn đánh mọi ngả đường, hãy đập gãy xương sống, cái xương sống độc tài - nguyên nhân của mọi sự lạm quyền và lũng đoạn. Hãy thay đổi môi trường sống. Một môi trường lành mạnh hơn để khắp nơi trên đất nước Việt Nam thân yêu này thực sự có độc lập, tự do, thái bình và hạnh phúc. Đạo đức giả cần phải bị truy đuổi đến tận cùng hang ổ của nó để rồi bị vùi lấp một cách vĩnh viễn như dân tộc khai sinh ra nó đã quyết tâm tiêu diệt hơn 160 năm trước.

Quê hương, ngày nắng giả

Những Cánh Chim Đáng Lẽ Phải Bay Cao (CT15)

Châu Đình Khoa

Trời đang ở vào những ngày cuối hạ. Những hàng lá me đang thẩm sắc màu. Bầu trời cao và xanh trong. Nắng chang chang mê mải múa. Nếu cuộc đời có bốn mùa xuân hạ thu đông thì tuổi trẻ chúng ta đang bước vào những ngày tháng Hạ với nhiều hoài bão cho cá nhân và cuộc đời. Hoài bão và lý tưởng tuổi trẻ đang được nhắc đến rất nhiều trong các diễn văn, báo, đài, Tivi, và các phong trào ở nhiều thành phố. Nhưng chẳng thấy ở đâu, chúng ta nghe được hoài bão của chính mình.

Vậy, hoài bão của bạn là gì? Bạn muốn được vào trường tốt, phù hợp với khả năng học vấn và kết quả thi cử của mình? Hoặc bạn đã tốt nghiệp đại học và đang bươn chải kiếm một việc làm thích hợp? Ước muốn bình thường nhưng vẫn là hoài bão nhức nhối trong tình trạng thất nghiệp trầm trọng hiện nay của sinh viên mới ra trường. Bạn tốt nghiệp luật sư nhưng đang làm tiếp viên khách sạn; sinh viên kinh tế nhưng lại là hướng dẫn viên du lịch; giáo viên tiếng Anh nhưng phải mở lớp miễn phí trường làng... Bạn đang bức xúc vì đã không đủ tiền chi phí lót đường để được nhận vào công ty hoặc cơ quan nhà nước vì mảnh bằng bạn có không phải là lá bùa tiến thân? Hay bạn đang ước ao được xuất khẩu đi lao động, làm gì cũng được miễn sao có tiền? Thế là bạn phải xanh máu mặt để bước qua cửa ải đầu-tiên-tiền-đâu của công ty môi giới. Bạn đang làm việc ở Hàn Quốc, Đài Loan? Bạn có dành dụm đủ tiền chưa để trả món nợ từ 3 đến 4 nghìn đô la Mỹ lót đường trước khi đi? Và hoài bão bây giờ chắc đã thu hẹp lại trong ước muốn được yên thân, tuân phục những chèn ép của chủ nhân người Đài, người Hàn hầu khỏi bị đuổi về nước trước thời hạn hợp đồng.

Trời đang ở vào những ngày cuối Hạ. Bầu trời thì cao nhưng sao những hoài bão vẫn cứ chùng thấp. Tuổi trẻ sung mãn như sóng tràn nhưng ước vọng vẫn loay hoay nước đọng ao hồ. Sao thế bạn? Bạn có bao giờ nghĩ rằng nếu có dân chủ, tự do, đa nguyên và pháp trị thì sự công bằng và trong sạch trong xã hội là hiển nhiên và những vấn đề của mỗi chúng ta sẽ được giải quyết? Không chừng những khó khăn và bất toại của chúng mình sẽ tự nhiên biến mất sạch sành sanh và hoài bão của chúng ta sẽ thực hiện được một cách dễ dàng. Chắc rằng lúc đó chúng ta sẽ cảm nhận rằng những hoài bão tưởng như to lớn hiện nay lại là những điều rất bình thường trong cuộc sống của con người ở thế kỷ 21. Bạn hỡi !, những hàng lá me ngoài kia đang thẩm sắc màu. Sao ta không thể như chú chim kia, cất cánh ngang tầm với vòm cây lung linh nắng để thấy mình gần hơn với trời xanh bao la, để thấy rõ mọi nhỏ nhoi, thấp hèn dưới đất? Trong đôi cánh nhỏ bé của ta, sao chưa mang nỗi những hoài bão lớn hơn để tự nó giải quyết những khát vọng nhỏ nhoi đang có, không riêng cho chính mình mà còn cho tất cả. Phải cùng nhau cất cánh để thoát ra khỏi cái lồng khép kín, thoát ra cái tưởng-là-hoài-bão nhưng thực tế chỉ là những bôn ba bươn chải thật thấp trong tầm nhìn của thời đại bạn ạ.

Những con chim luôn bắt đầu bằng đôi cánh run rẩy của sợ hãi. Bay được lên chóp hàng me để ngắm bầu trời trong xanh là bước đầu của trưởng thành can đảm. Chim sẽ bay xa hơn, cao hơn với những khát vọng lớn hơn. Hãy bắt đầu bằng hoài bão về một xã hội công bằng và trong sạch. Để hy vọng sang Xuân, chúng ta sẽ là đàn chim ríu rít, tự do tung bay khắp trời xanh bao la như loài Việt điểu ngày nào của sử xanh.